Category Archives: Tư vấn, Hỗ trợ

Lạng Sơn: Triển khai nhiều chính sách nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(PLVN) – Năm 2023, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đạt nhiều kết quả tích cực. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 2 huyện nghèo, 5 huyện biên giới; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, với 07 dân tộc chủ yếu là: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 19,28%; quy mô nền kinh tế nhỏ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; hạ tầng còn khó khăn…. Do đó, tỉnh xác định việc triển khai thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng tâm.

Trong năm 2023, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành kế hoạch số 59 /KH-UBND, trong đó tập trung, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội có trọng tâm, trọng điểm đối với vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn, đảm bảo để các xã, thôn thoát nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS &MN trên địa bàn tỉnh đạt mục tiêu giảm bình quân 3,0%/năm.

Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện kịp thời và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. (Ảnh; Lê Hanh)

Năm 2023, tỉnh cũng phấn đấu đạt mục tiêu 05 xã thoát khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn 01 xã; huyện Bình Gia 01 xã; huyện Văn Quan: 01 xã; huyện Lộc Bình: 01 xã; huyện Đình Lập: 01 xã; 24 thôn thuộc xã khu vực I, II thoát khỏi địa bàn thôn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn là 04 thôn; huyện Chi Lăng là 10 thôn; huyện Hữu Lũng là 02 thôn; huyện Đình Lập là 06 thôn; huyện Văn Lãng là 02 thôn.

Ông Lương Trọng Quỳnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cho biết: “Việc thực hiện phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn luôn bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả và kịp thời giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, tổ chức triển khai thực hiện, phấn đấu hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ đề ra”.

Trong năm qua, tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho đồng bào DTTS và miền núi. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)
Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)

Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng DTTS&MN và các đơn vị sự nghiệp công của lĩnh vực dân tộc, bao gồm việc đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống và đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp mạng lưới chợ vùng đồng bào DTTS&MN.

Đối với giáo dục, tỉnh tăng cường đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Bên cạnh đó, bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học; phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng DTTS&MN. Tăng cường thực hiện chính sách đầu tư y tế xã đạt chuẩn, mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hộ dân tộc thiểu số;

Chăm sóc cải thiện sức khoẻ của người DTTS bằng công tác y tế cơ sở để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào DTTS&MN. Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội nhằm nâng cao đồi sống cho đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn.

Cùng với đó, tỉnh cũng chú trọng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức của đồng bào về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo là những đối tượng có tiếng nói trong địa bàn thôn, bản để họ trực tiếp vận động đồng bào tích cực tham gia giáo dục pháp luật ; nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng cho vùng đồng bào DTTS&MN về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Để thực hiện các dự án này, Ban Dân tộc tỉnh là đầu mối thống nhất theo dõi, đôn đốc, tổng hợp các chính sách dân tộc; đề xuất và tham gia thẩm định chính sách, các dự án đầu tư liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung trong Kế hoạch, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu đã đề ra. Tiến hành sơ kết, đánh giá các chỉ tiêu trong Kế hoạch, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính rà soát, đề xuất, điều chỉnh bổ sung các dự án đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế, báo cáo UBND tỉnh.

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập BCĐTƯ Chương trình MTQG …

Ảnh minh họa (tapchitaichinh.vn)

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình làm Trưởng ban chỉ đạo.

Ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc làm Phó Trưởng ban thường trực. 2 Phó Trưởng ban khác là lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và lãnh đạo Bộ Tài chính.

Các thành viên BCĐ là đại diện một số bộ, ngành liên quan.

BCĐ Trung ương có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc liên quan đến quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các giải pháp để đạt được mục tiêu của Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Đề án) và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Chương trình).

Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách có liên quan để thực hiện hiệu quả Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối hoạt động giữa các Bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương và các địa phương trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án.

Bên cạnh đó, giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, ngành cơ quan trung ương và các địa phương trong việc xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, điều hành Chương trình và triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng trong quá trình thực hiện.

Trưởng BCĐ Trung ương quy định Quy chế hoạt động của BCĐ Trung ương và phân công nhiệm vụ của các thành viên BCĐ.

Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 đặt tại Ủy ban Dân tộc, giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương và trực tiếp giúp việc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc – Phó Trưởng ban thường trực BCĐ Trung ương để quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; sử dụng biên chế của Ủy ban Dân tộc và được bố trí kinh phí hoạt động trong kinh phí thường xuyên của Ủy ban Dân tộc.

>> Quyết định số 1014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2020 về Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 20301014-QĐ-TTg – 14-7-2020.signed.pdf

(Theo baochinhphu.vn)

Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện

Nghị định số 107/2020/NĐ-CP và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/9/2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2020. Cụ thể, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các sở chuyên môn; tiêu chí thành lập các phòng chuyên môn, văn phòng, chi cục và các tổ chức tương đương thuộc sở; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu sở, số lượng cấp phó của các đơn vị, tổ chức thuộc sở… Đáng lưu ý, Nghị định 107/2020/NĐ-CP quy định rõ số lượng phó giám đốc sở không cứng nhắc mà linh động theo số bình quân mỗi sở có 3 phó giám đốc. Căn cứ số lượng sở được thành lập và tổng số lượng phó giám đốc, UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể số lượng phó giám đốc của từng sở cho phù hợp. Riêng đối với Hà Nội và Tp.HCM, ngoài tổng số lượng phó giám đốc theo quy định tính bình quân chung thì mỗi thành phố được tăng thêm không quá 10 phó giám đốc.

Đối với ngành công tác dân tộc, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 9 như sau: Ban Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ban Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Và khoản 17 Điều 8: Trường hợp không tổ chức riêng Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ngoại vụ, dân tộc do Văn phòng Ủy ban nhân dân thực hiện.”

Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, trách nhiệm của Trưởng phòng, số lượng Phó Trưởng phòng các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố. Trong đó, Phòng Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Phòng Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Trường hợp không tổ chức riêng Phòng Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực dân tộc do Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện.

Chi tiết Nghị định 107/2020/NĐ-CP

Chi tiết Nghị định 108/2020/NĐ-CP

Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cho ý kiến về Chương trình MTQG phát triển KT-XH …

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến khẳng định: Việc xây dựng Chương trình MTQG là cần thiết; tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG sẽ cơ bản giải quyết được những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc hiện nay; đáp ứng mong đợi của đồng bào DTTS.

“Chương trình sẽ góp phần thúc đẩy KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi phát triển nhanh, bền vững; tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững; giải quyết căn cơ hơn một số bức xúc của người DTTS sinh sống ở vùng đồng bào DTTS miền núi. Chương trình sẽ đạt được đa mục tiêu về KT-XH; quốc phòng – an ninh; đối ngoại; bảo vệ môi trường, sinh thái và đa dạng sinh học; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; là yếu tố đặc biệt quan trọng để củng cố và nâng cao niềm tin của đồng bào các DTTS đối với Đảng và Nhà nước; tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến khẳng định.

Theo Tờ trình của Chính phủ, Chương trình MTQG bao gồm 10 dự án và các tiểu dự án thành phần. Chương trình được thực hiện ở địa bàn vùng DTTS và miền núi là các xã, thôn có tỷ lệ hộ DTTS từ 15% trở lên, phân định thành 3 khu vực theo trình độ phát triển. Đối tượng thực hiện của Chương trình là: Thôn, bản, buôn, làng, ấp…; xã vùng đồng bào DTTS và miền núi. Các thành phần kinh tế trong vùng đồng bào DTTS và miền núi (hộ gia đình, cá nhân người DTTS; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn (ĐBKK); doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế, xã hội hoạt động ở địa bàn vùng ĐBKK). Các cơ quan hành chính các cấp tổ chức thực hiện Chương trình.

Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc (HĐDT) của Quốc hội Hà Ngọc Chiến cho biết: Thường trực HĐDT thống nhất về sự cần thiết đầu tư Chương trình MTQG để thể chế hóa Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới” và thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội “Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030”. “Thường trực HĐDT đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của UBDT (được Chính phủ giao chủ trì soạn thảo) và các bộ, ngành trong quá trình chuẩn bị, xây dựng Chương trình”, Chủ tịch HĐDT của Quốc hội Hà Ngọc Chiến đánh giá.

Thảo luận tại phiên họp, các đại biểu thống nhất, tán thành với sự cần thiết của Chương trình MTQG đối với sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi. Đồng thời, các đại biểu đánh giá cao Chính phủ, UBDT với tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đã xây dựng, hoàn thiện Chương trình MTQG. Các đại biểu cho rằng, để thực hiện tốt Chương trình MTQG cần quan tâm, xem xét các vấn đề, như: Tính toán kỹ lưỡng tính khả thi của từng dự án, tiểu dự án; các mục tiêu cần được cụ thể hóa; làm rõ cơ chế thực hiện; dự án nên phối hợp với dự án khác liên quan đến đồng bào DTTS; chú trọng tính đặc thù của từng vùng miền, dân tộc; đa dạng hóa nguồn lực; nâng cao vai trò trách nhiệm của chính quyền địa phương…

Một số đại biểu đề nghị Chính phủ lưu ý những chính sách cụ thể, như: Việc thực hiện Chương trình phải bảo đảm phù hợp văn hóa và môi trường sống của đồng bào DTTS; quan tâm giữ gìn tiếng dân tộc; đào tạo giáo viên người DTTS; quan tâm đến kinh tế lâm nghiệp gắn với rừng; thu hút doanh nghiệp đầu tư từ miền xuôi lên miền núi; quan tâm đến đường giao thông, gắn với sắp xếp lại dân cư…

Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng hoan nghênh và đánh giá cao Chính phủ với thời gian ngắn nhưng đã khẩn trương, nghiêm túc chấp hành Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ xây dựng Chương trình MTQG và cho rằng, hồ sơ của Chương trình MTQG đủ điều kiện trình Quốc hội. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị, Chính phủ báo cáo, giải trình thêm về phạm vi, giải pháp và một số vấn đề cụ thể thực hiện Chương trình MTQG; khẩn trương ban hành bộ tiêu chí phân định vùng DTTS và miền núi để làm căn cứ thực hiện Chương trình.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng khẳng định, việc thực hiện Chương trình MTQG thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó chính quyền địa phương phải đề cao trách nhiệm trong thực thi chính sách hiệu quả tại cơ sở. UBDT tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình. HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân tăng cường vai trò giám sát… để thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG, vì sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.