Category Archives: Tư vấn, Hỗ trợ

Nghiên cứu thí điểm mô hình hợp tác xã xã hội chủ nghĩa tại Thái Nguyên

Nghiên cứu thí điểm mô hình hợp tác xã xã hội chủ nghĩa tại Thái Nguyên (Phương Thảo – Nông Vui•19:52, 27/08/2026)

          Chiều 27-8, Tỉnh ủy Thái Nguyên phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận, thực tiễn và định hướng xây dựng mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”.

          Hội thảo do các đồng chí: Trịnh Xuân Trường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên; PGS.TS Dương Trung Ý, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; PGS.TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; TS Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và đồng chí Nguyễn Đăng Bình, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên, đồng chủ trì. Tham dự có lãnh đạo một số cơ quan Trung ương, các nhà khoa học, chuyên gia; lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành, địa phương và đại diện các hợp tác xã.

Phát biểu khai mạc, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên Trịnh Xuân Trường nhấn mạnh, việc nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Mục tiêu là xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện phát triển mới, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa phát huy các giá trị hợp tác, dân chủ, công bằng, cùng có lợi; từ thực tiễn Thái Nguyên để kiểm chứng, tổng kết và từng bước nhân rộng.

Trình bày báo cáo đề dẫn, đồng chí Nguyễn Đăng Bình nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phát triển hợp tác xã về số lượng sang chất lượng, hiệu quả và năng lực quản trị; lấy thành viên làm trung tâm, hài hòa lợi ích thành viên, tập thể và cộng đồng; gắn với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và liên kết chuỗi giá trị.

Hội thảo nhận được hơn 25 tham luận, cùng 6 lượt ý kiến trình bày trực tiếp và nhiều trao đổi. Các ý kiến tập trung làm rõ cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý; đặc trưng, hệ giá trị, cấu trúc và phương thức vận hành của mô hình; đề xuất cơ chế, chính sách, nguồn lực và giải pháp về khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, nguồn nhân lực, thị trường, liên kết chuỗi giá trị.

Bộ tiêu chí được đề nghị xây dựng theo hướng khoa học, tinh gọn, thực chất, có khả năng lượng hóa, đo lường và kiểm chứng.

Từ lợi thế và thực tiễn của Thái Nguyên, nhiều ý kiến thống nhất định hướng lựa chọn lĩnh vực chè để thí điểm mô hình. Đây là sản phẩm chủ lực, thương hiệu và một phần bản sắc văn hóa của tỉnh, đã hình thành vùng nguyên liệu, nhiều hợp tác xã và chuỗi liên kết. Việc thí điểm phải bảo đảm khoa học, thực chất, có kiểm soát, lựa chọn đơn vị đủ điều kiện, tự nguyện và có năng lực đổi mới.

Phát biểu tổng kết Hội thảo, PGS.TS Dương Trung Ý nhấn mạnh, tính “xã hội chủ nghĩa” không phải là danh xưng gắn vào hợp tác xã, càng không phải trở lại mô hình hành chính hóa, bình quân, bao cấp trước đây.

Hợp tác xã hoạt động đúng pháp luật và quy luật thị trường, trên cơ sở tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, quản trị dân chủ và cùng có lợi; trong đó con người và lợi ích chính đáng của thành viên giữ vị trí trung tâm, gắn hiệu quả kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.

Đồng chí Dương Trung Ý cho rằng, thành công của mô hình không đo bằng tên gọi hay danh hiệu, mà phải thể hiện ở những hợp tác xã thực sự mạnh về kinh tế, dân chủ trong quản trị, công bằng trong phân phối, hiện đại về công nghệ, xanh trong phương thức phát triển, giàu bản sắc văn hóa và có trách nhiệm với cộng đồng.

Đối với Thái Nguyên, đồng chí đề nghị chuyển từ tư duy phát triển chè như một sản phẩm nông nghiệp sang xây dựng hệ sinh thái “kinh tế chè” đa ngành, tích hợp, xanh và hiện đại; gắn sản xuất nguyên liệu chất lượng cao với chế biến sâu, thực phẩm, thương mại điện tử, du lịch trải nghiệm, văn hóa trà, khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực, qua đó đưa chè trở thành ngành kinh tế tổng hợp có sức cạnh tranh cao và là biểu tượng văn hóa đặc sắc của tỉnh.

Từ kết quả Hội thảo, đồng chí đề nghị tổng hợp đầy đủ các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện Đề án và Bộ tiêu chí, bảo đảm rõ quan điểm, mục tiêu, chủ thể, nguồn lực, lộ trình và cơ chế đánh giá; khảo sát, xây dựng dữ liệu về hợp tác xã và chuỗi giá trị chè; lựa chọn đơn vị thí điểm khách quan; tập trung hỗ trợ quản trị, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu, chế biến sâu và thị trường…

Ngay sau Hội thảo, Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy hoàn thiện báo cáo kết quả Hội thảo trước ngày 4/9/2026; Trường Chính trị tỉnh nghiên cứu, tiếp thu, bổ sung, hoàn thiện Đề án và Bộ tiêu chí thực hiện mô hình, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trong tháng 9-2026.

UBND tỉnh cùng các cơ quan chức năng, địa phương, đơn vị phối hợp hoàn thiện Đề án và chuẩn bị các điều kiện để sớm triển khai mô hình trên địa bàn tỉnh theo đúng lộ trình, bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

 Hợp tác xã XHCN thế hệ mới: Lấy lợi ích thành viên làm “chìa khóa”

Thí điểm mô hình hợp tác xã (HTX), liên hiệp HTX XHCN tại Thái Nguyên đang mở ra hướng đi mới cho kinh tế tập thể, nhưng cũng đặt ra câu hỏi làm thế nào để HTX vừa hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường, vừa bảo đảm thành viên thực sự làm chủ và được hưởng lợi?

Bởi vậy, việc Thái Nguyên triển khai thí điểm xây dựng “Mô hình HTX, liên hiệp HTX xã hội chủ nghĩa (XHCN)” đang nhận được sự quan tâm từ cả góc độ nghiên cứu lý luận và thực tiễn triển khai.

Không quay lại thời kỳ bao cấp

Tại Hội thảo khoa học “Cơ sở lý luận, thực tiễn và định hướng xây dựng mô hình HTX, liên hiệp HTX XHCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, tổ chức ngày 27/8, ông Nguyễn Đăng Bình, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, khẳng định xây dựng HTX, Liên hiệp HTX XHCN là bước triển khai căn bản nhằm đổi mới phương thức tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của khu vực kinh tế tập thể tỉnh.

Đặc biệt, Thái Nguyên có truyền thống về phát triển mô hình HTX, có vùng nguyên liệu rộng lớn cùng thương hiệu danh tiếng “Chè Thái Nguyên” – hạt nhân cốt lõi để thí điểm và lan tỏa mô hình HTX, liên hiệp HTX XHCN.

Theo Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân, xây dựng mô hình HTX, liên hiệp HTX XHCN là một vấn đề mới, khó và cần tiếp cận hết sức thận trọng. Mục tiêu không phải là bổ sung một tên gọi mới hay lựa chọn một vài HTX để nhận hỗ trợ, mà là trả lời câu hỏi căn bản: Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, HTX phải phát triển như thế nào để vừa hoạt động hiệu quả, có sức cạnh tranh, vừa phát huy đầy đủ bản chất hợp tác, dân chủ, tương trợ, công bằng và cùng phát triển.

Đặc biệt, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc cốt lõi là phát triển kinh tế tập thể hiện nay không quay lại mô hình HTX thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, không tập thể hóa tư liệu sản xuất và không hạn chế quyền tự chủ của thành viên. HTX thế hệ mới vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, gắn kết quản trị dân chủ, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị.

HTX không thay thế hay làm mất đi kinh tế hộ, kinh tế thành viên, mà tổ chức những khâu cá thể khó làm hoặc làm với chi phí cao, từ đó làm cho kinh tế thành viên mạnh hơn. Tính chất XHCN phải thể hiện qua hiệu quả kinh tế, quyền làm chủ, phương thức phân phối, sự phát triển tài sản chung và đóng góp cộng đồng.

“Luận điểm này hoàn toàn nhất quán với khung pháp lý của Luật HTX 2023, nơi quyền quản lý không xác lập đơn thuần theo tỷ lệ vốn góp mà lấy con người và tư cách thành viên làm trọng tâm”, người đứng đầu Liên minh HTX Việt Nam khẳng định.

Chủ tịch Cao Xuân Thu Vân chỉ ra rằng HTX XHCN không phải là một loại hình pháp lý mới tồn tại song song trong Luật, mà là một mô hình phát triển thể hiện trình độ cao hơn. Bất kể HTX lớn hay nhỏ, tính chất XHCN thể hiện qua việc phải lấy thành viên làm trung tâm, trong đó hiệu quả thể hiện ở lợi ích thực chất của thành viên như chi phí giảm, chất lượng tăng và thu nhập ổn định.

HTX phải hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường với phương án kinh doanh khả thi, lấy hiệu quả kinh tế làm điều kiện tồn tại và giá trị xã hội làm mục tiêu phát triển. HTX phải thực hành dân chủ thực chất, bảo đảm thành viên thực sự được biết, bàn, làm, kiểm tra, giám sát và thụ hưởng.

Mô hình HTX XHCN phải bảo đảm hài hòa các lợi ích giữa thành viên, tập thể, Nhà nước và cộng đồng. HTX gắn phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, tạo việc làm tại chỗ và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, HTX phải có năng lực đổi mới, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu bền vững.

Để làm được những điều này, Thái Nguyên cần thí điểm có chọn lọc, trong đó ưu tiên HTX trong chuỗi giá trị chè, sau đó xây dựng phương án riêng cho từng mô hình, phát triển năng lực nội sinh và sớm ban hành Bộ tiêu chí đo lường để kiểm nghiệm qua thực tiễn.

PGS.TS Dương Trung Ý, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản dẫn lại luận điểm của C. Mác trong tác phẩm Tư bản về sức sản xuất tập thể và lời V.I. Lê-nin trong tác phẩm Bàn về chế độ HTX để khẳng định, không thể kiến tạo quan hệ kinh tế mới bằng mệnh lệnh hành chính mà phải thông qua lợi ích thiết thực và sự tự nguyện. Ông cho rằng nếu chỉ nhấn mạnh tính tập thể mà xem nhẹ năng suất lao động và sức cạnh tranh thì HTX khó phát triển, ngược lại nếu chỉ chạy theo thị trường mà làm suy giảm quyền làm chủ của thành viên thì HTX có nguy cơ bị doanh nghiệp hóa về bản chất.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân cho rằng Thái Nguyên cần thí điểm có chọn lọc, lấy chất lượng làm yêu cầu cao nhất để xây dựng mô hình HTX XHCN.

Còn TS. Lương Văn Khôi, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược khẳng định rằng, lấy lợi ích kinh tế làm trọng tâm kết hợp coi trọng giá trị xã hội là định hướng bắt buộc để phát triển mô hình HTX XHCN.

Không dừng ở đó, TS. Phạm Thị Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, nhấn mạnh nguyên tắc đối nhân và tính công bằng trong phân phối thu nhập, giúp HTX nâng cao sức cạnh tranh.

Chuẩn hóa Bộ tiêu chí

Mô hình HTX, Liên hiệp HTX XHCN là mô hình mới, nên việc nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng, cụ thể được coi là nền tảng để phát triển thí điểm, nhân rộng hiệu quả mô hình này.

Hiện, Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên đã dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá thí điểm áp dụng mô hình HTX XHCN cho ngành chè với thang điểm 100. Đối với HTX sản xuất chè, hệ thống gồm 50 tiêu chí thuộc 13 nhóm.

Nhóm tự nguyện và quản trị dân chủ yêu cầu tỷ lệ thành viên duy trì đạt từ 95% trở lên, không cá nhân nào chi phối quá 30% vốn điều lệ và trên 80% thành viên tham gia biểu quyết các quyết định lớn.

Nhóm chuỗi giá trị và tổ chức sản xuất đòi hỏi diện tích vùng nguyên liệu liên kết ổn định từ 30 ha trở lên, bao tiêu tối thiểu 70% sản lượng chè tươi, 100% diện tích có mã số vùng trồng, công suất chế biến thành phẩm từ 100 tấn/năm, doanh thu đạt trên 350 triệu đồng/ha/năm và có gian hàng số…

Đối với Liên hiệp HTX, hệ thống 34 tiêu chí thuộc 9 nhóm tập trung vào yêu cầu quy tụ từ 3 HTX thành viên trở lên, cùng tham gia chuỗi giá trị, hoạt động có lãi 3 năm liên tục và 100% HTX thành viên phải đạt chuẩn XHCN, dùng chung cơ sở dữ liệu, thương hiệu và hệ thống logistics…

Dù đã xây dựng được bộ tiêu chí, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân vẫn nhấn mạnh rằng, Thái Nguyên cần xây dựng Bộ tiêu chí gọn, đo lường được và kiểm nghiệm qua thực tiễn. Cần xác định rõ các tiêu chí cốt lõi, chỉ số, nguồn dữ liệu và cơ chế kiểm chứng; kết hợp tiêu chí bắt buộc về bản chất hợp tác với tiêu chí kết quả phù hợp từng ngành, lĩnh vực. Bộ tiêu chí phải là công cụ động, được điều chỉnh trên cơ sở kết quả thí điểm.

Điều cần trả lời là thành viên được lợi gì; năng lực tự chủ và sức cạnh tranh tăng ra sao; tài sản chung được củng cố thế nào; cộng đồng được hưởng lợi gì; và sau khi hỗ trợ của Nhà nước kết thúc, HTX có tiếp tục phát triển bằng chính năng lực của mình hay không.

Vì vậy, Bộ tiêu chí cần chuyển mạnh từ đánh giá đầu vào, điều kiện hình thức sang đánh giá kết quả và tác động thực tế; tập trung vào sáu nhóm: bản chất hợp tác và chất lượng thành viên; quản trị dân chủ, minh bạch; hiệu quả kinh tế và lợi ích thành viên; năng lực tích lũy, phát triển tài sản chung; liên kết, khoa học, công nghệ và phát triển bền vững; đóng góp xã hội và cộng đồng.

Trong hệ thống này, lợi ích thực chất của thành viên phải là tiêu chí trung tâm và có trọng số đủ lớn. Nếu tách yếu tố thành viên khỏi đánh giá, hợp tác xã rất dễ bị nhìn nhận như một doanh nghiệp thông thường

PGS.TS Dương Trung Ý cũng cho rằng, bộ tiêu chí cần kết hợp giữa “tiêu chí nền tảng bắt buộc” và “tiêu chí phát triển”. Một số nguyên tắc như tự nguyện, dân chủ, minh bạch, chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn thực phẩm, không xâm hại môi trường phải được xem là điều kiện nền tảng.

Bên cạnh đó, cần tránh “đóng khung” mô hình theo riêng ngành chè nếu mục tiêu dài hạn là nhân rộng. Chè là lĩnh vực rất phù hợp để thí điểm tại Thái Nguyên. Nhưng nếu Bộ tiêu chí thiết kế quá sâu theo đặc thù chè thì sau này khó áp dụng cho HTX công nghiệp, thương mại, vận tải, môi trường hay các loại hình khác.

Vì vậy, nên xây dựng cấu trúc hai tầng. Một là tầng tiêu chí cốt lõi áp dụng chung cho mọi HTX XHCN. Hai là tầng tiêu chí đặc thù theo ngành, lĩnh vực. Cách làm này sẽ nâng giá trị tổng kết lý luận của Đề án, đưa mô hình thực tiễn phát triển.

Công bố quyết định và bầu chức vụ Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030

 – Sáng 6/8, Ban Chấp hành Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030 tổ chức kỳ họp thứ Tư về công tác cán bộ.

 

Các đại biểu dự hội nghị

Tại kỳ họp, lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh công bố Quyết định số 569/QĐ-TU, ngày 29/7/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ điều động đồng chí Nguyễn Hữu Hải, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Lạng Sơn đến nhận công tác tại Liên minh HTX tỉnh kể từ ngày 01/8/2026 và giới thiệu để bầu tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2025 – 2030.

Ban Chấp hành Liên minh HTX tỉnh tiến hành bầu đồng chí Nguyễn Hữu Hải tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030

Cũng trong kỳ họp, Ban Chấp hành Liên minh HTX tỉnh đã thực hiện quy trình bầu đồng chí Nguyễn Hữu Hải tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

Đồng chí Nguyễn Hữu Hải, tân Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh phát biểu nhận nhiệm vụ

Lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh tặng hoa chúc mừng đồng chí Nguyễn Hữu Hải, Phát biểu nhận nhiệm vụ, đồng chí Nguyễn Hữu Hải hứa sẽ tiếp tục phát huy năng lực, kinh nghiệm công tác để cùng tập thể Ban Chấp hành, Liên minh HTX tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn. Từ đó góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội chung trên địa bàn tỉnh.

 

ĐÌNH QUYẾT

một số kết quả trong việc hỗ trợ chuyển đổi số trong sản suất và tiêu thụ sảm phẩm của HTX trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh 8.311 km2, dân số 813.992 người, với 253 km đường biên giới tiếp giáp Quảng Tây (Trung Quốc), phần lớn dân số là người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi (chiếm tỷ lệ 83,91%), điều kiện phát triển KT – XH còn khó khăn.

– Đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 588 hợp tác xã, tổng vốn đăng ký 1.640 tỷ đồng (bình quân: 2,8 tỷ đồng/HTX), trong đó có 456 HTX đang hoạt động; doanh thu bình quân 01 HTX ước đạt 1.500 triệu đồng/năm và thu nhập bình quân 01 HTX ước đạt 100 triệu đồng/năm. Tổng số thành viên HTX là 6.490 người (bình quân 11 thành viên/HTX); tổng số lao động HTX là 8.200 người. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu là nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 68%, lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 32% (lĩnh vực nông nghiệp có 400 HTX, chiếm 68,4%; lĩnh vực phi nông nghiệp có 188 HTX, chiếm 31,6%). Nhìn chung kinh tế tập thể của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, phát triển nhanh về số lượng với nhiều hình thức, trình độ, quy mô khác nhau đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh. Các HTX đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong xây dựng nông thôn mới (NTM) góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn thời kỳ hội nhập, duy trì và gia tăng số xã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu; góp phần thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội và xây dựng nông thôn mới tại cơ sở.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của hỗ trợ của Liên minh HTX Việt Nam, sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và các cơ quan trong hệ thống chính trị, cùng với sự cố gắng, nỗ lực, đồng thuận của các HTX; Liên minh HTX tỉnh đã không ngừng nỗ lực triển khai các hoạt động hỗ trợ các HTX đặc biệt là các HTX vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Như các hoạt động đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng, trình độ quản trị, ứng dụng chuyển đổi số, hỗ trợ vay vốn, đầu tư trang thiết bị sản xuất và chuyển giao kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và tiếp cận các kênh tiêu thụ mới. Những sản phẩm mang đặc trưng dân tộc của Lạng Sơn đã xuất hiện ở nhiều cửa hàng, siêu thị lớn trên cả nước.

Năm 2024, Liên minh HTX được UBND tỉnh giao thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ xây dựng và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Tiểu dự án 2 – Dự án 10: “Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS & MN. Để thực hiện nội dung trên, Liên minh HTX tỉnh đã phối hợp tổ chức khảo sát mức độ chuyển đổi số và khả năng tiếp cận ứng dụng thương mại điện tử của các HTX và thành viên vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh. Kết quả cho thấy có 73% số HTX, thành viên được khảo sát cho biết đã sẵn sàng tiếp cận và tham gia vào quá trình chuyển đổi số và TMĐT, tuy nhiên, chỉ 53% số HTX có máy tính kết nối internet …đặc biệt là về kỹ năng cần thiết phục vụ cho CĐS và TMĐT của các HTX ở đây chỉ đạt mức dưới trung bình (từ 2 – 2.5 trên thang điểm 5); số nhân viên phụ trách công tác xúc tiến thương mại, phát triển thị trường tại các HTX còn chiếm tỉ lệ rất ít, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Do vậy, Liên minh HTX tỉnh đã phối hợp với Viện Kho học Công nghệ và Môi trường – Liên minh HTX Việt Nam xây dựng nội dung và triển khai chương trình tập huấn “Nâng cao năng lực ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong SXKD và tiêu thụ sản phẩm cho HTX, thành viên vùng đồng bào DTTS và miền núi”. Kết quả: Năm 2024, Liên minh HTX tỉnh đã tổ chức thành công 04 lớp tập huấn cho khoảng 170 học viên là cán bộ, thành viên HTX, THT, hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Đầu năm 2025, phối hợp với Viện Khoa học Công nghệ Môi trường tổ chức 01 lớp tập huấn về ”Ứng dụng CNTT” cho 70 người là thành viên người lao động trong các HTX trên địa bàn tỉnh. Các khóa tập huấn đã trang bị các kiến thức cơ bản về chuyển đổi số; các giải pháp ứng dụng chuyển đổi số áp dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, kỹ năng xây dựng và quản lý thương hiệu, đặc biệt là đưa vào chương trình tập huấn kỹ năng quản trị gian hàng và bán hàng trên các nền tảng mạng xã hội và các sàn TMĐT. Một số Giám đốc HTX trẻ, với các sản phẩm nông sản, đặc sản địa phương, như trà thảo dược, thạch đen, hoa quả đặc trưng, đã chủ động thực hiện livetreams, quảng bá giới thiệu sản phẩm bán hàng trên các nền tảng mạng xã hội tiktok, facebook, thông qua điện thoại thông minh, giao hàng qua hệ thống giao nhanh, như: HTX chế biến nông sản Lụa Vy – huyện Chi Lăng, HTX sản xuất và chế biến NLN Bản Quyền Tràng Định, HTX Toàn Thương – huyện Văn Lãng… đồng thời với sự hỗ trợ của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh, trong triển khai nền tảng cửa hàng số trực tuyến trên điện thoại di động, những năm 2021 – 2025, dành cho các hộ sản xuất, hộ thành viên, đã tạo ra sự lan toả bước đầu trong việc sử dụng bán hàng qua Internet của hộ nông dân trên địa bàn; đây là điều kiện cho việc tham gia bán hàng trên nền tảng chợ sản phẩm trực tuyến của Liên minh HTX khi được triển khai toàn hệ thống…

Có thể nói, hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển kinh tế – xã hội của các HTX và thành viên tại vùng DTTS&MN tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả thiết thực. Việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT cho các HTX và thành viên tại vùng DTTS&MN tỉnh Lạng Sơn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức hỗ trợ và các HTX, đồng thời tập trung đầu tư hạ tầng và nâng cao nhận thức về vai trò của ứng dụng CNTT, CĐS trong phát triển bền vững. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX vùng đồng bào DTTS&MN tỉnh Lạng Sơn phát triển ổn định và bền vững, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống của cộng đồng địa phương

Về đề xuất một số giải pháp thúc đẩy nâng cao năng lực chuyển đổi số, trong sản suất và tiêu thụ sảm phẩm của HTX, thành viên trong thời gian tới

Một là, Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị, mạng lưới hệ thống thông tin đầy đủ, đáp ứng các điều kiện để phát triển CNTT, ứng dụng chuyển đổi số tại các địa phương vùng đồng bào DTTS & MN, nhất là những vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Hai là, Tăng cường mở các lớp bồi dưỡng, cũng như đưa các chuyên đề ứng dụng chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo vào Chương trình đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực sử dụng, vận hành các dịch vụ số, công nghệ số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực KTTT, HTX.

Ba là, Quan tâm đề xuất ban hành, cũng như tổ chức triển khai các chính sách hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo cho các HTX từ thực tiễn; thông qua điều tra, đánh giá thực trạng và nhu cầu việc ứng dụng các nền tảng số, dịch vụ số và công nghệ số của HTX để làm cơ sở định hướng ban hành chính hỗ trợ cho HTX thực hiện chuyển đổi số hiệu quả; tạo điều kiện để các HTX và thành viên ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý, điều hành và sản xuất, kinh doanh.

Bốn là, Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình HTX hoạt động hiệu quả, mô hình HTX thực hiện chuyển đổi số thành công, mô hình HTX đổi mới sáng tạo mang lại hiệu quả cao, tiết giảm chi phí, tối ưu hoá nguồn lực; liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; ứng dụng công nghệ cao và thúc đẩy chuyển đổi số.

Năm là, Tăng cường huy động các nguồn lực, kết nối các đối tác trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm hỗ trợ phát triển khu vực KTTT, HTX chuyển đổi số; kết nối và tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua chuyển đổi số (tham gia các sàn thương mại điện tử, xây dựng wedsite để giới thiệu sản phẩm,…); trước mắt, tập trung hỗ trợ các HTX đưa sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP lên sàn thương mại, chợ sản phẩm trực tuyến trong hệ thống Liên minh HTX và các sàn thương mại điện tử khác nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số.

LIÊN MINH HỢP TÁC XÃ TỈNH LẠNG SƠN – QUA 30 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Trong nhiều tháng qua, cán bộ, thành viên và người lao động cơ quan Liên minh Hợp tác xã tỉnh và các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên đã hăng hái thi đua lao động, sản xuất, lập thành tích chào mừng 30 năm Ngày thành lập Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn (ngày 10/12/1994 – 10/12/2024).

Ngày 11 tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư­ gửi điền chủ nông gia Việt Nam kêu gọi tham gia hợp tác xã nông nghiệp. Sau lời kêu gọi của Ngư­ời, hàng loạt cơ sở kinh tế hợp tác đ­ược thành lập và các hợp tác xã phát triển mạnh mẽ vào những năm 50 – 60 của thế kỷ XX. Cùng với quá trình phát triển của phong trào hợp tác xã ở Việt Nam, các cơ quan quản lý, tổ chức đại diện và hỗ trợ cho các hợp tác xã cũng từng bước được  thành và phát triển. Năm 1955, Ban quản lý hợp tác xã mua bán Việt Nam được thành lập. Đến năm 1961 thành lập Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp Việt Nam. Đây là hai tổ chức cấp quốc gia quản lý, đại diện, hỗ trợ các hợp tác xã mua bán và tiểu thủ công nghiệp trên quy mô cả nước. Năm 1991, Hội đồng Trung ương lâm thời các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ra đời trên cơ sở hợp nhất 2 tổ chức trên[1]. Ngày 30/10/1993, Đại hội đại biểu toàn quốc các HTX Việt Nam lần thứ nhất được tiến hành, thông qua Điều lệ Hội đồng Trung ương Liên minh các HTX Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ đại diện và hỗ trợ cho tất cả các HTX hoạt động ở các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân[2]. Đến nay, Liên minh HTX Việt Nam đã trải qua 6 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội là một dấu mốc đánh dấu sự phát triển về tổ chức và hoạt động của Liên minh HTX Việt Nam gắn với quá trình củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, HTX theo đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Từ cuối năm 1993, sau khi Hội đồng Trung ương Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam được thành lập; được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, ngày 25/5/1992, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 266 QĐ/UB-TC, công nhận thành lập Hội đồng lâm thời Liên minh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh Lạng Sơn, với nhiệm vụ tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia Hội đồng và kết nạp thành viên, nghiên cứu, đề ra phương hướng củng cố và phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tổ chức kiện toàn các hình thức liên doanh, liên kết thích hợp. Đầu năm 1993, trên cơ sở sáp nhập Hội đồng lâm thời Liên minh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh và Ban quản lý HTX mua bán tỉnh; Hội đồng lâm thời Liên minh các HTX và doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh được thành lập, bổ sung nhiệm vụ hỗ trợ, đồng hành cùng với phong trào kinh tế tập thể trong tình trạng yếu kém, gây dựng lại phong trào kinh tế tập thể với những thành kiến về mô hình hợp tác xã kiểu cũ, kém hiệu quả tồn tại trong quần chúng nhân dân, quả là một nhiệm vụ đầy khó khăn.

Ngày 10/12/1994, Hội đồng lâm thời Liên minh các HTX và doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ nhất. Đại hội đã thống nhất lấy tên gọi là Hội đồng Liên minh các HTX tỉnh Lạng Sơn. Đại hội đã xác định nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn 1994 – 2001, đó là: Đổi mới và phát triển các hình thức hợp tác trên cơ sở tự nguyện của người lao động, phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế; Đại hội đã bầu 21 ủy viên Ban Chấp hành. Đồng chí Đỗ Ngọc Thìn, nguyên Chủ tịch Hội đồng lâm thời Liên minh các HTX và doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh được bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Hội đồng Liên minh các HTX tỉnh Lạng Sơn khoá I[3].

(Ảnh Đại hội đại biểu Hội đồng Liên minh các HTX tỉnh Lạng Sơn lần thứ nhất, 09, 10/12/1994)

Sau khi Luật Hợp tác xã năm 1996 ra đời[4], đặc biệt là quán triệt Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 24/5/1996 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế; Liên minh HTX tỉnh đã có nhiều cố gắng trong việc chủ động đề xuất, tham mưu cho UBND tỉnh, Ban chỉ đạo kinh tế tập thể tỉnh ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản triển khai đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp; hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp đã có thay đổi tích cực, được nông dân đồng tình ủng hộ; đẩy mạnh đổi mới, xây dựng các HTX phi nông nghiệp được mở rộng, tình hình sản xuất, kinh doanh ổn định và có hướng phát triển, đời sống xã viên không ngừng được cải thiện. Đầu năm 2001, Đồng chí Nông Tiến Phong, nguyên Phó trưởng Ban kinh tế Tỉnh uỷ, được điều động, giới thiệu bầu tham gia Ban Chấp hành, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Liên minh các HTX tỉnh khoá I thay đồng chí Đỗ Ngọc Thìn, đã nghỉ hưu.

Ngày 20/8/2001, Đại hội Liên minh HTX tỉnh lần thứ II, nhiệm kỳ 2001 – 2005 được tiến hành[5]. Đại hội đã bầu 17 ủy viên Ban Chấp hành. Đồng chí Nông Tiến Phong, nguyên Chủ tịch Hội đồng Liên minh các HTX tỉnh khoá I được bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá II[6]. Năm 2002, triển khai Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của Liên minh Hợp tác xã tỉnh.

(Ảnh: Đoàn diễu hành Kinh tế tập thể Lạng Sơn, nhân dịp mít tinh kỷ niệm 30 giải phóng Miền Nam 30/4/1975 – 30/4/2005)

Khoá II, Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn, tiếp tục kéo dài 02 năm, đến ngày 29, 30/10/2007, Đại hội Liên minh HTX tỉnh lần thứ III, nhiệm kỳ 2007 – 2012 được tiến hành. Đại hội đã bầu 34 ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ 07 uỷ viên, Ban Kiểm tra 05 uỷ viên. Đồng chí Lã Pính San, nguyên Phó Giám đốc Sở Công nghiệp được giới thiệu bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá III. Đại hội, đề ra nhiệm vụ bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tiếp tục củng cố, đổi mới và phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng; góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh.

(Ảnh: Đồng chí Lã Pính San, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá III, phát biểu tại Hội nghị thành lập HTX Hoà Bình, huyện Chi Lăng, năm 2009)

Ngày 26/10/2012, Đại hội Liên minh HTX tỉnh lần thứ IV, nhiệm kỳ 2012 – 2017 được tiến hành. Đại hội đã bầu 31 ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ 07 uỷ viên, Ban Kiểm tra 05 uỷ viên. Đồng chí Hoàng Văn Sóng, nguyên Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá III được giới thiệu bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá IV[7]. Đại hội, đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã với tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững về số lượng, quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động. Tiếp tục củng cố nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX hiện có, giải thể các HTX hoạt động kèm hiệu quả, tồn tại hình thức không đúng Luật HTX năm 2012, đẩy mạnh phát triển tổ hợp tác, nhất là triển khai Kế hoạch số 72/KH-UBND, ngày 7/8/2013 của UBND tỉnh về thực hiện Kết luận số 56-KL/TW, ngày 21/02/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX; Nghị quyết 28-NQ/TU, ngày 11/10/2011 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2015. Tham gia triển khai Kế hoạch số 115/KH-BCĐKTTT, ngày 18/8/2015 của Ban chỉ đạo kinh tế tập thể tỉnh tổ chức lại hoạt động, chuyển đổi Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh theo Luật Hợp tác xã năm 2012.

(Ảnh: Đồng chí Hoàng Văn Sóng, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá IV, phát biểu khai giảng lớp bồi dưỡng cho cán bộ quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã năm 2012)

Ngày 02, 03/11/2017, Đại hội Liên minh HTX tỉnh lần thứ V, nhiệm kỳ 2017 – 2022 được tiến hành. Đại hội đã bầu 33 ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ 07 uỷ viên, Ban Kiểm tra 05 uỷ viên. Đồng chí Vy Kim Truyền, nguyên Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá IV được giới thiệu bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá V[8]. Đại hội, đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã, phát triển bền vững, cùng chia sẻ lợi ích và quản lý dân chủ, góp phần xây dựng xã hội hợp tác, đoàn kết, dân chủ, nhất là triển khai Kết luận số 104-KL/TU, ngày 08/12/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TU, ngày 11/10/2011 trong giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 1497/QĐ-UBND, ngày 24/8/2015 của Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Thực hiện Kết luận số 78-KL/TW, ngày 10/6/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ chức Đại hội Liên minh HTX Việt Nam và cấp tỉnh, nhiệm kỳ 2020 – 2025; Công văn số 1570-CV/TU, ngày 25/11/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tổ chức Đại hội Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn, nhiệm kỳ 2020 – 2025, thống nhất trong hệ thống Liên minh HTX Việt Nam. Ngày 09, 10/12/2020, Đại hội Liên minh HTX tỉnh lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 được tiến hành. Đại hội đã bầu 35 ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ 08 uỷ viên, Ban Kiểm tra 05 uỷ viên. Đồng chí Vy Kim Truyền, nguyên Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá V tiếp tục được giới thiệu bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá VI[9]. Tháng 6/2022, đồng chí Liễu Xuân Du, nguyên Phó Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ, được điều động, giới thiệu bầu tham gia Ban Chấp hành, giữ chức vụ Chủ tịch Liên minh các HTX tỉnh khoá VI thay đồng chí Vy Kim Truyền, đã nghỉ hưu. Đại hội, đề ra nhiệm vụ bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh trong phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX trên cơ sở tập hợp và liên kết rộng rãi mọi tầng lớp xã hội, mọi loại hình tổ chức kinh tế với trình độ phát triển khác nhau từ tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp, không giới hạn quy mô, lĩnh vực địa bàn; triển khai thực hiện Quyết định số 1804/QĐ-TTg, ngày 13/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2025; Chương trình số 19/CTr-UBND, ngày 23/5/2021 của UBND tỉnh Lạng Sơn về hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021 – 2025[10]; nhất là triển khai thực hiện Chương trình hành động số 71-CTr/TU, ngày 09/3/2023 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới (Nghị quyết Trung ương 5 khoá XIII); Kế hoạch số 115/KH-UBND, ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình hành động số 71-CTr/TU, ngày 09/3/2023 của Tỉnh uỷ và triển khai Luật HTX năm 2023 trên địa bàn tỉnh.

Ngày 15, 16/01/2026, Đại hội Liên minh HTX tỉnh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030 được tiến hành. Đại hội đã bầu 34 ủy viên Ban Chấp hành (khuyết 01, kiện toàn sau đại hội), Ban Thường vụ 10 uỷ viên (khuyết 01, kiện toàn sau đại hội), Ban Kiểm tra 05 uỷ viên. Đồng chí Liễu Xuân Du, nguyên Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá VI tiếp tục được giới thiệu bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá VII[11]. Đại hội, đề ra nhiệm vụ tiếp tục phát triển KTTT, HTX theo hướng năng động, hiệu quả, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội; thực sự là thành phần quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. Đa dạng mô hình hợp tác, thu hút đông đảo nông dân tham gia HTX, đồng thời khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoặc liên kết chặt chẽ với HTX. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Chủ động triển khai các giải pháp hỗ trợ HTX và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và hiệu quả Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chương trình tổng thể về phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 – 2030 (theo Quyết định số 1128/QĐ-TTg, ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ).

Tiếp tục tư vấn, hỗ trợ các HTX tiếp cận các chính sách hỗ trợ của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TU, ngày 03/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển nông, lâm nghiệp tập trung, bền vững gắn với
chế biến, tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2026 – 2030; Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐND, ngày 26/3/2026 của HĐND tỉnh về một số chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2026 – 2030; Kế hoạch 122/KH-UBND, ngày 01/4/2026 của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TU, ngày 03/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các chính sách khác.

Đồng thời, từ 01/02/2026, Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn chuyển trực thuộc Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lạng Sơn, thực hiện các định hướng hoạt động và chịu sự quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, tài sản theo sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh, nhằm phát huy vai trò của tổ chức xã hội – nghề nghiệp tại địa phương thiết thực, hiện quả, gắn với thành viên tổ chức kinh tế tập thể trên địa bàn.

(ảnh: Đồng chí Đoàn Thanh Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển Kinh tế tập thể tỉnh, làm việc với cơ quan Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn, tháng 6/2024)

Hơn 30 năm xây dựng và phát triển, trải qua 7 kỳ Đại hội, nhiều thế hệ cán bộ Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn đã phát huy được vai trò đại diện cho lĩnh vực kinh tế tập thể; vị thế của Liên minh Hợp tác xã tỉnh tiếp tục được khẳng định, thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các HTX và thành viên phát triển; đã thực hiện tốt nhiệm vụ thành viên Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể tỉnh; tham gia thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên; tăng cường hoạt động tư vấn, hỗ trợ, cung ứng một số dịch vụ công cho khu vực kinh tế tập thể, Hợp tác xã. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo, cung ứng dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ tổ chức lại, thành lập mới hợp tác xã, xây dựng nhiều hợp tác xã sản xuất gắn với chuỗi giá trị; củng cố tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức, lề lối làm việc, thực hiện các giải pháp tăng cường liên kết phục vụ hợp tác xã. Đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển đổi, thành lập mới và nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thuộc lĩnh vực kinh tế tập thể trong tỉnh.

Đến nay toàn tỉnh có 588 HTX, trong đó 456 hợp tác xã đang hoạt động, với trên 6.490 thành viên; 390 tổ hợp tác, với trên 4.000 thành viên và 03 Liên hiệp HTX, với 19 thành viên. Các HTX phát triển rộng khắp ở các huyện, thành phố trong tỉnh, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 68%, phi nông nghiệp 32%. Liên minh Hợp tác xã tỉnh đã thu hút được 116 thành viên, trong đó có 110 HTX.

Có thể khẳng định rằng, với tính chất là tổ chức kinh tế tập thể, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, các HTX đã thúc đẩy kinh tế hộ phát triển thông qua các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, bên cạnh các hoạt động chủ yếu là phục vụ các nhu cầu kinh tế, đời sống của xã viên, hộ xã viên, các hợp tác xã còn tạo ra lượng sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ không nhỏ để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu.

Các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp đã khẳng định vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội; thực hiện tốt các hoạt động dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực tham mưu với chính quyền địa phương triển khai công tác phân vùng sản xuất, đầu tư sản xuất theo hướng thâm canh, chuyên canh cao, gắn với chương trình tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm; nhiều HTX đứng ra làm dịch vụ đầu mối, ổn định đầu ra cho sản phẩm; tăng thu nhập, nâng cao đời sống thành viên, góp phần giải quyết việc làm, giảm nghèo, an sinh xã hội, từng bước tích lũy để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm thay đổi diện mạo nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo hướng tích cực, thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy cho thành viên, khẳng định vai trò, vị thế và sự phát triển của các HTX.

Các HTX trong lĩnh vực phi nông nghiệp hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thành viên tham gia góp vốn vào HTX theo quy định của pháp luật, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường, các phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi cao. Nhiều HTX đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ, thu hút lao động, tận dụng và khai thác tối đa nguồn nguyên liệu tại địa phương. Công tác tổ chức sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu; hoạt động sản xuất gắn với cơ cấu lao động ở nông thôn.

Nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển của Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn hơn 30 năm qua, bên cạnh những thành công, những kết quả đã đạt được, Liên minh Hợp tác xã tỉnh cũng ý thức được rằng: Kinh tế tập thể của tỉnh vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục; đó là: Số lượng các hợp tác xã có tăng, chất lượng hoạt động được nâng lên song chưa vững chắc, còn một số hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả; năng lực về vốn, công nghệ, lao động còn hạn chế; chất lượng sản phẩm của các hợp tác xã chưa cao, sức cạnh tranh yếu.

Để khắc phục những tồn tại, trong thời gian tới Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp sau:

Một là, Liên minh HTX tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân và các tổ chức đoàn thể về bản chất của kinh tế tập thể, HTX. Có như vậy, các HTX mới có điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức hội nghề nghiệp cũng như đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp.

Hai là, Liên minh HTX tỉnh tiếp tục cùng các ban, ngành hoàn thiện hệ thống chính sách của tỉnh về kinh tế tập thể nhằm tạo điều kiện thu hút người dân tham gia thành lập HTX, giúp người dân hạn chế những khó khăn trong thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ba là, đổi mới, củng cố tổ chức kinh tế tập thể, HTX để Liên minh HTX Việt Nam thực sự là tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các HTX. Tập hợp, các đề xuất, kiến nghị chính đáng của các HTX đến các cơ quan chính quyền địa phương nhằm giúp kinh tế tập thể tại các địa phương phát triển đúng hướng, đúng bản chất.

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, kinh tế tập thể, HTX được Đảng và Nhà nước khẳng định là có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Luật Hợp tác xã năm 2023 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20/6/2023 (thay thế Luật HTX năm 2012), bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2024[12]. Luật Hợp tác xã năm 2023 ra đời giúp tạo hành lang pháp lý thông thoáng, loại bỏ các quy định gây trở ngại gia nhập thị trường, phát triển thành viên, bảo đảm và phát huy đặc trưng, nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức kinh tế hợp tác phát triển năng động, hiệu quả, bền vững, thực sự là thành phần quan trọng trong nền kinh tế với nhiều mô hình liên kết, hợp tác, trên cơ sở tôn trọng bản chất Hợp tác xã[13], thu hút nhiều thành phần, đối tượng tham gia vào khu vực kinh tế tập thể, giúp nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của các thành viên và góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Sau 30 năm thành lập Liên minh Hợp tác xã, là dịp để Liên minh Hợp tác xã tỉnh và các đơn vị thành viên tiếp tục khẳng định mình, tăng thêm lòng tin và sức mạnh cho chặng đường tiếp theo, thực hiện tốt hơn nữa các nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao; góp phần quan trọng đưa sự nghiệp kinh tế tập thể của tỉnh phát triển lên tầm cao hơn, đóng góp tích cực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ 18, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

Liên minh Hợp tác xã tỉnh tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhan dân tỉnh, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh, và của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, đoàn thể trong tỉnh và sự nỗ lực phấn đấu của đông đảo thành viên và người lao động trong các hợp tác xã và các doanh nghiệp thành viên, nhất định Liên minh Hợp tác xã tỉnh sẽ hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao.

               [1]. Ngày 18/12/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra Quyết định số 409-CT thành lập Hội đồng Trung ương lâm thời các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Liên hiệp Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Trung ương và Ban quản lý hợp tác xã mua bán Việt Nam.

               [2]. Ngày 30/10/1993, Đại hội đại biểu toàn quốc các hợp tác xã Việt Nam lần thứ nhất được tiến hành. Đại hội đã thông qua Điều lệ Hội đồng Trung ương Liên minh các hợp tác xã Việt Nam là tổ chức hỗ trợ, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho các hợp tác xã thuộc các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ, xây dựng và các ngành nghề phi nông nghiệp khác. Điều lệ của Hội đồng Liên minh hợp hợp tác xã Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y tại Quyết định số 582/TTg-QĐ, ngày 01/12/1993. Đến nay, Điều lệ của Liên minh hợp tác xã Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y tại Quyết định số 105/QĐ-TTg, ngày 24/01/2017.

               [3]. Ngày 10/01/1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 05 UB/QĐ-TC về việc công nhận Ban Chấp hành, Thường trực của Hội đồng Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá I.

               [4]. Kể từ khi Luật Hợp tác xã đầu tiên được Quốc hội thông qua năm 1996, có hiệu lực thi hành từ 01/01/1997 đến Luật Hợp tác xã 2003 và Luật Hợp tác xã  năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho khu vực hợp tác xã phát triển.

          [5]. (Đại hội quyết định đổi tên thành Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn là tổ chức được thành lập theo Điều 49 Luật Hợp tác xã năm 1996).

               [6]. Ngày 17/10/2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 58/2001/QĐ-UB về việc công nhận Ban Chấp hành Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá II; Quyết định số 25457/QĐ-UB, ngày 10/12/2001 về việc phê duyệt Quy chế Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá II.

               [7]. Ngày 21/11/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 1718/QĐ-UB về việc công nhận Ban Chấp hành Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá IV, nhiệm kỳ 2012 – 2017; Quyết định số 1717/QĐ-UB, ngày 21/11/2012 về việc công nhận Điều lệ Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá IV, nhiệm kỳ 2012 – 2017.

               [8]. Ngày 04/12/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 2308/QĐ-UBND về việc công nhận Ban Chấp hành Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá V, nhiệm kỳ 2017 – 2022; Quyết định số 2358/QĐ-UBND, ngày 08/12/2017 về việc phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) của Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá V, nhiệm kỳ 2017 – 2022.

               [9]. Ngày 19/10/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 2088/QĐ-UBND về việc phê duyệt Điều lệ Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025. Ban Chấp hành Liên minh HTX Việt Nam đã ban hành Quyết định số 60/QĐ-LMHTXVN, ngày 11/3/2021 về việc chuẩn y kết quả bầu Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Chủ nhiệm UBKT Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

[10]. HĐND tỉnh đã có Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND, ngày 10/12/2019, Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND, ngày 17/7/2021 về chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2020 – 2025. Các chương trình hỗ trợ kinh tế tập thể, hợp tác xã giúp các hợp tác xã kịp thời nâng cao năng lực quản trị, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, tăng khả năng tiếp cận thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.

          [11]. Ngày 09/6/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số 1034/QĐ-UBND về việc phê duyệt Điều lệ Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khoá VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Đại hội và Ban Chấp hành Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn lần thứ VII đã ban hành các Nghị quyết số 01 và 02/NQ-LMHTX, ngày 15/01/2026 về việc công nhận kết quả bầu cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng ban, phó Ban Kiểm tra Liên minh HTX tỉnh Lạng Sơn khoá VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030 và Thông báo số 115/TB-BCH, ngày 28/01/2026 của Ban Chấp hành Liên minh HTX Việt Nam về công nhận kết quả bầu cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch, ban kiểm tra, trưởng, phó ban Kiểm tra Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn khóa VII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

[12]. Luật Hợp tác xã năm 2023 bao gồm 115 điều, 12 chương (tăng 51 điều, 3 chương so với Luật HTX năm 2012, trong đó có 3 chương mới là chương II (Chính sách của Nhà nước về phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã), chương VIII (Kiểm toán hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã), chương IX (Tổ hợp tác).

[13]. Một trong những quan điểm, chính sách được thể hiện rõ nét thông qua những điểm mới trong Luật Hợp tác xã năm 2023 là việc hoàn thiện các quy định về bản chất hợp tác xã, phát triển thành viên hợp tác xã.

Quỹ tín dụng nhân dân – mô hình tài chính hợp tác xã trong bối cảnh phát triển kinh tế tập thể tại tỉnh Lạng Sơn

Trong tiến trình phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã được xác định là một trong những lực lượng quan trọng góp phần tổ chức lại sản xuất, phát huy nội lực cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy, khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng phù hợp vẫn là một trong những khó khăn phổ biến đối với nhiều hợp tác xã, đặc biệt trong bối cảnh quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên.

 

Hợp tác xã đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, song việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phù hợp vẫn còn nhiều thách thức.

Theo số liệu của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đạt trên 53 nghìn tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho vay đối với khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã chiếm tỷ trọng nhỏ, quy mô vay vốn còn hạn chế so với tổng dư nợ toàn địa bàn. Cơ cấu tín dụng dành cho hợp tác xã chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp, phản ánh đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, nhu cầu vốn mang tính mùa vụ và khả năng hấp thụ vốn còn khiêm tốn.

Trong bối cảnh đó, Quỹ tín dụng nhân dân được nhìn nhận là một mô hình tài chính đặc thù, tổ chức và hoạt động theo bản chất hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên, nhằm hỗ trợ vốn cho chính các thành viên trong cộng đồng dân cư. Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân cư trú, sản xuất, kinh doanh trên cùng một địa bàn cấp xã; hoạt động với mục tiêu chủ yếu là tương trợ, hỗ trợ lẫn nhau, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế địa phương, hạn chế tín dụng phi chính thức.

Mô hình Quỹ tín dụng nhân dân gắn với cộng đồng dân cư, hoạt động trên phạm vi địa bàn hẹp, phục vụ trực tiếp nhu cầu vốn của thành viên.

Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trong phạm vi địa bàn cấp xã, chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn hệ thống và phù hợp với đặc thù quản trị của mô hình hợp tác xã. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân đòi hỏi phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện nghiêm ngặt về nhu cầu vốn thực tế, năng lực tài chính, năng lực quản trị, điều hành và phương án hoạt động khả thi, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.

Tại tỉnh Lạng Sơn, đến nay chưa có tổ chức Quỹ tín dụng nhân dân. Thực tế này cho thấy mô hình tài chính hợp tác xã đặc thù nêu trên chưa được áp dụng trên địa bàn tỉnh, không phải do thiếu cơ sở pháp lý, mà chủ yếu xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô hoạt động của hợp tác xã, mức độ liên kết cộng đồng và năng lực tổ chức thực hiện trong từng giai đoạn phát triển.

Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu mô hình Quỹ tín dụng nhân dân tại Lạng Sơn cần được tiếp cận theo hướng thận trọng, bài bản và có lộ trình, tránh tư duy nóng vội hoặc kỳ vọng chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Trước mắt, việc hình thành ngay Quỹ tín dụng nhân dân tại địa phương chưa phải là yêu cầu cấp thiết, song việc chuẩn bị về nhận thức, năng lực và điều kiện nền tảng là cần thiết, nhằm tạo tiền đề cho những bước đi phù hợp trong trung và dài hạn.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn cần xác định một số định hướng hỗ trợ mang tính gợi mở, thiết thực đối với khu vực hợp tác xã. Trọng tâm là tăng cường công tác thông tin, tư vấn, hướng dẫn về các mô hình tài chính hợp tác xã, trong đó có Quỹ tín dụng nhân dân, nhằm giúp các hợp tác xã nhận thức đầy đủ, đúng đắn về bản chất, điều kiện và phạm vi áp dụng của mô hình, qua đó chủ động lựa chọn hình thức tiếp cận phù hợp, hạn chế tình trạng hiểu chưa đầy đủ hoặc phát sinh kỳ vọng vượt quá khả năng thực hiện.

Bên cạnh đó, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn, tổ chức liên quan triển khai các hoạt động tư vấn, tập huấn, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về quản trị tài chính, quản trị hợp tác xã; hỗ trợ nâng cao năng lực xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và phương án sử dụng vốn của các hợp tác xã. Đây được xác định là giải pháp nền tảng, góp phần từng bước nâng cao năng lực nội tại, khả năng hấp thụ vốn và mức độ sẵn sàng của hợp tác xã khi tiếp cận các mô hình tài chính có yêu cầu quản trị cao, trong đó có mô hình Quỹ tín dụng nhân dân.

Song song với đó, Liên minh Hợp tác xã tỉnh phát huy vai trò đại diện, cầu nối thông tin của khu vực kinh tế tập thể, hỗ trợ các hợp tác xã tiếp cận các kênh vốn hợp pháp hiện có; đồng thời tổng hợp, phản ánh thực tiễn, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tiếp cận tín dụng của hợp tác xã. Trên cơ sở theo dõi, đánh giá điều kiện thực tế và nhu cầu của các hợp tác xã, việc nghiên cứu, đề xuất khả năng áp dụng mô hình Quỹ tín dụng nhân dân tại một số địa bàn phù hợp có thể được xem xét theo đúng quy định của pháp luật.

Phát triển kinh tế tập thể bền vững là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu thực tiễn, năng lực nội tại của hợp tác xã và khuôn khổ pháp lý hiện hành. Trong bối cảnh đó, Quỹ tín dụng nhân dân được nhìn nhận là một mô hình tài chính hợp tác xã có giá trị tham khảo, tuy nhiên việc xem xét áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn, triển khai từng bước, có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương trong từng giai đoạn.

Hữu Hải

Phó GĐ TTXTĐTTM&DL

Hợp tác xã hướng cho sản phẩm nông sản tham gia thị trường xuất khẩu

– Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc đưa nông sản đến với thị trường quốc tế không chỉ đòi hỏi chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu cao về quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Chính vì vậy, thời gian qua, các hợp tác xã (HTX) trên địa bàn tỉnh đang từng bước phát huy vai trò liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, tạo nền tảng quan trọng để mở rộng thị trường.

Toàn tỉnh hiện có 400 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhận thức rõ xu hướng hội nhập và yêu cầu phải thay đổi tư duy sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường, những năm gần đây, nhiều HTX trên địa bàn tỉnh đã chủ động đổi mới phương thức hoạt động, tập trung xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn và đẩy mạnh liên kết tiêu thụ sản phẩm. Qua đó không chỉ nâng cao giá trị nông sản mà còn giúp người dân từng bước tiếp cận các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước.

HTX Nông nghiệp Hoàng Việt, xã Na Sầm là một trong những HTX điển hình áp dụng sản xuất hồng Vành Khuyên theo tiêu chuẩn VietGAP để nâng cao chất lượng sản phẩm. Ông Hoàng Văn Hưng, Giám đốc HTX chia sẻ: HTX được thành lập năm 2019, với 8 thành viên, diện tích trồng hồng khoảng 20 ha. Trước đây, các hộ trồng hồng chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, hiệu quả không cao, thị trường tiêu thụ còn khó khăn. Sau khi HTX được thành lập, các thành viên đã được tham gia các lớp tập huấn về trồng, chăm sóc hồng do các cơ quan chuyên môn phối hợp tổ chức; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây hồng. Đến nay, các thành viên đều tuân thủ chung một quy trình kỹ thuật chăm sóc, sử dụng vật tư đầu vào theo hướng dẫn, ghi chép nhật ký sản xuất hằng ngày… Hiện nay, 100% diện tích trồng hồng của HTX được sản xuất theo quy trình VietGAP, sản lượng tăng khoảng 15 – 20% so với trước kia, mẫu mã, chất lượng quả to đẹp, đồng đều. Đây là điều kiện để HTX hướng tới thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn.

Cùng với việc áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, nhiều HTX cũng tập trung xây dựng thương hiệu, hoàn thiện mẫu mã, bao bì để tham gia chương trình OCOP (mỗi xã một sản phẩm). Đây là yếu tố quan trọng giúp sản phẩm tạo dựng niềm tin với khách hàng, gia tăng giá trị tham gia các chuỗi cung ứng hiện đại.

Tiêu biểu như HTX Chế biến nông sản Lụa Vy, xã Quan Sơn. Bà Vi Thị Lụa, Giám đốc HTX cho biết: Hiện HTX có 2 sản phẩm đạt OCOP (trà diếp cá và trà ổi rừng). Sau khi sản phẩm trà diếp cá của HTX được công nhận OCOP 3 sao (năm 2022), HTX đã tiếp tục đầu tư máy móc, hoàn thiện quy trình sản xuất theo hướng an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng xây dựng thương hiệu và cải tiến mẫu mã bao bì. Nhờ đó, năm 2025 sản phẩm trà diếp cá được nâng hạng lên OCOP 4 sao. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của HTX mà còn tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm tiếp cận các thị trường mới, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Thời gian tới, HTX sẽ tiếp tục đầu tư, nâng cấp sản phẩm trà diếp cá dạng viên và nước cô đặc dạng cao, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giúp nhiều khách hàng biết đến sản phẩm hơn.

Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, những năm gần đây, các HTX đã tập trung ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng các mô hình sản xuất sạch và phát triển các sản phẩm nông sản hữu cơ. Cụ thể, hiện nay trên địa bản tỉnh có 50 HTX nông nghiệp có ứng dụng khoa học công nghệ, áp dụng thực hành nông nghiệp tốt và có 72 HTX nông nghiệp liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, hộ sản xuất. Cùng với đó, có 58 HTX có sản phẩm đạt OCOP. Đây là nền tảng quan trọng để các HTX từng bước tham gia chuỗi giá trị và hướng tới xuất khẩu.

Bên cạnh sự chủ động của các HTX, thời gian qua, Liên minh HTX tỉnh đã phối hợp các đơn vị liên quan triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ như: Phối hợp các ngành tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật; hướng dẫn lập kế hoạch sản xuất kinh doanh; bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị HTX; hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm… Cụ thể, tính riêng từ năm 2025 đến nay, Liên minh HTX tỉnh đã hỗ trợ trưng bày sản phẩm của 15 HTX trên địa bàn tỉnh tại các hội chợ trong cả nước; tổ chức 3 lớp tập huấn nâng cao năng lực quản trị cho các thành viên HTX… Thông qua các chương trình này, nhiều HTX từng bước tiếp cận phương thức sản xuất hiện đại, thay đổi tư duy từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu của thị trường.

Ông Liễu Xuân Du, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh cho biết: Thời gian qua, các HTX trên địa bàn tỉnh đã chủ động đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX, mở rộng thị trường tiêu thụ, thời gian tới, Liên minh HTX tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành liên quan đẩy mạnh tư vấn, hỗ trợ các HTX nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng các hoạt động xúc tiến thương mại. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản địa phương, tạo điều kiện để các HTX từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và hướng tới thị trường xuất khẩu.

Có thể thấy, với vai trò là cầu nối liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu sản phẩm, các HTX đang trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Sự chủ động đổi mới của các HTX cùng với sự đồng hành của các cấp, ngành chức năng sẽ tạo nền tảng vững chắc để nông sản địa phương nâng cao giá trị, mở rộng thị trường tiêu thụ, từng bước hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

(HIỂU LAM – CÁT TIÊN, Báo Lạng Sơn điện tử)

Bàn giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của hợp tác xã

Lạng Sơn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(Mặt trận) – Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 5 huyện biên giới, 2 huyện nghèo; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông.  Trong thời gian qua, Lạng Sơn luôn đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc hỗ trợ đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình) góp phần nâng cao đời sống người dân và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân ở vùng dân tộc thiểu số.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giúp đời sống đồng bào các DTTS ở Lạng Sơn ngày càng khởi sắc. (Nguồn Báo Dân tộc và Phát triển).

Thực hiện Chương trình thời gian qua, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành cụ thể hóa các chủ trương, định hướng, quy định của Trung ương, của tỉnh. Theo đó, các cấp, các ngành đã xây dựng, ban hành các Quyết định, Kế hoạch để triển khai thực hiện và tăng cường công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với triển khai các phong trào thi đua của Trung ương, của tỉnh phát động….

Quá trình tổ chức, quản lý thực hiện chương trình được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình cấp tỉnh, 11/11 huyện, thành phố đã ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện; đồng thời hướng dẫn 181/181 xã thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp xã. Công tác lập kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch hằng năm; tăng cường cơ chế phân cấp trong huy động nguồn lực, nâng cao tính chủ động, linh hoạt của các cấp trong quản lý, tổ chức thực hiện.

Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường xuyên, đúng quy định; trong giai đoạn, ban chỉ đạo chương trình MTQG các cấp đã ban hành các kế hoạch kiểm tra, chương trình công tác của các ngành, của tỉnh. Hằng năm UBND tỉnh đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện các chương trình MTQG kết hợp với việc kiểm tra tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Việc lập, thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 và hằng năm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 tỉnh được giao là 4.178.824 triệu đồng, trong đó: ngân sách Trung ương 3.974.964 triệu đồng, ngân sách địa phương đối ứng 203.860 triệu đồng.

Trên cơ sở nguồn vốn kinh phí được giao, tỉnh đã phân bổ giai đoạn 2022-2024 là: 2.859.173 triệu đồng, trong đó: ngân sách trung ương 2.722.991 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 1.588.505 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 1.134.486 triệu đồng), ngân sách địa phương đối ứng 136.182 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 79.444 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 56.738 triệu đồng).

Từ nguồn vốn được phân bổ, các cơ quan, đơn vị, các cấp, ngành đã triển khai thực hiện giải ngân theo đúng mục đích của Chương trình đề ra. Đến nay, tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2021-2024 đã giải ngân (tính đến hết tháng 9/2024) là: 1.604.676 triệu đồng, đạt 56% so với kế hoạch vốn đã giao, trong đó: ngân sách trung ương 1.580.769 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 1.226.845 triệu đồng, vốn sự nghiệp 353.924 triệu đồng), ngân sách địa phương đối ứng 23.907 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 18.349 triệu đồng, vốn sự nghiệp 5.558 triệu đồng). Ước giải ngân đến hết năm 2024 đạt 86% so với kế hoạch vốn đã giao.

Qua 4 năm tập trung triển khai thực hiện 10 dự án thành phần thuộc Chương trình, kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, kinh tế phát triển khá toàn diện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3%/năm, dự kiến giai đoạn 2024-2025 tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2-2,5%. Đến thời điểm này đã có 11/47 xã đã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 23% so với kế hoạch giai đoạn; dự kiến đến hết năm 2025 có 47/47 xã, 47/47 thôn thuộc xã khu vực I, II và 268/268 thôn thuộc xã khu vực III thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 100% chỉ tiêu so với kế hoạch giai đoạn.

Từ các nguồn vốn của Chương trình đã thực hiện đầu tư cứng hóa mới 241,49/193km đường đến trung tâm xã, đường liên xã (vượt 25% kế hoạch giai đoạn); xây mới 02, cải tạo; sửa chữa 12 trạm y tế xã; xây mới 01 chợ và cải tạo, sửa chữa, nâng cấp 08 chợ; duy tu bảo dưỡng 159 công trình các loại; đầu tư xây dựng 71 phòng công vụ giáo viên; 102 phòng ở cho học sinh; hỗ trợ 65 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, 155 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng…

Tỉnh tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các xã, thôn, bản khó khăn nhất, giải quyết các vấn đề bức xúc, cấp bách nhất. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng. Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Theo Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, tính đến tháng10/2024, tỉnh đã thực hiện Dự án 1 hỗ trợ đất ở cho 03/142 hộ (đạt 2% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ nhà ở cho 1.040/2.015 hộ (đạt 52% kế hoạch giai đoạn);  hỗ trợ đất sản xuất cho 0/139 hộ (đạt 0% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 1.887/5.000 hộ (đạt 38% kế hoạch giai đoạn), hỗ trợ vay vốn chuyển đổi nghề 52.986 triệu đồng với 1.120 lượt hộ vay; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 6.933/11.000 hộ (đạt 63% kế hoạch giai đoạn); đầu tư xây dựng 48/24 công trình nước sinh hoạt tập trung (vượt 100% kế hoạch giai đoạn).

Tỉnh dự kiến thực hiện Dự án 1 đến hết năm 2025 chỉ đạt 80% kế hoạch vốn giai đoạn giao. Tiến độ thực hiện các nội dung thuộc dự án không đồng đều do không có quỹ đất thực hiện hỗ trợ, đối tượng thụ hưởng, nội dung chuyển đổi nghề trùng lặp với đối tượng thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; đối tượng hộ nghèo đăng ký hỗ trợ nhà ở ít, định mức hỗ trợ xây nhà cho hộ nghèo thấp (40 triệu đồng/hộ); Bộ, ngành Trung ương chưa ban hành văn bản thực hiện nội dung sửa chữa nhà dẫn đến một số nội dung, chỉ tiêu thực hiện đến hết giai đoạn khó đạt mục tiêu giai đoạn đề ra.

Đối với Dự án 2: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết tỉnh đã thực hiện 08/09 dự án ổn định dân cư, đạt 89% kế hoạch giai đoạn (trong đó: 02 dự án tại huyện Tràng Định, 02 dự án tại huyện Chi Lăng, 03 dự án tại huyện Bình Gia, 01 dự án tại huyện Lộc Bình). Các dự án đang trong quá trình thi công các hạng mục công trình, tiến độ triển khai tốt; đã thực hiện sắp xếp, hỗ trợ di dời cho 225 hộ (Lộc Bình 18 hộ, Bình Gia 207 hộ). Dự kiến thực hiện đến hết năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn giai đoạn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chương trình còn có những khó khăn, hạn chế Kết quả thực hiện một số dự án, tiểu dự án thuộc Chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu, kế hoạch đề ra: số lượng hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất thuộc Dự án 1; diện tích thực hiện hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng sản xuất thuộc Tiểu dự án 1 – Dự án 3…
; tỷ lệ hộ nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo có nguy cơ tái nghèo còn cao; mục tiêu của Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 giảm 50% xã, thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn chưa bảo đảm tính khả thi.

Để triển khai thực hiện tốt Chương trình trong giai đoạn tới, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, sát sao, phát huy vai trò của người đứng đầu trong việc bám sát quan điểm, mục tiêu và giải pháp để xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể, tập trung chỉ đạo và huy động các nguồn lực cho chương trình; phát huy vai trò của cán bộ trong triển khai, thực hiện chương trình, nhất là cán bộ cấp cơ sở.

Cùng đó, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa thiết thực của chương trình; tuyên truyền huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, báo chí trung ương, địa phương hoạt động trên địa bàn, chú trọng làm tốt công tác đối thoại với Nhân dân; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh tại cơ sở. Đồng thời, xác định mục tiêu phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, cơ sở; linh hoạt vận dụng các cơ chế, chính sách trong triển khai thực hiện, trao quyền tự chủ cho người dân và cộng đồng để họ thực sự là chủ thể trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình, chính sách, tạo động lực cho người dân vươn lên thoát nghèo.

Chính sách hỗ trợ đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn

Đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nếu thuộc đối tượng quy định có thể được hỗ trợ đất ở, đất nông nghiệp, đất sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở.
Phụ nữ dân tộc thiểu số thôn Nà Pái (xã Tân Văn, Bình Gia, Lạng Sơn) thu hoạch hoa hồi. Ảnh: PV

Hỏi: Theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thì những ai sẽ được hỗ trợ đất, gồm những loại đất nào, hạn mức ra sao?

Nông Thị Thanh Thảo (Văn Lãng, Lạng Sơn)

Trả lời

Nghị quyết số 18/2024/NQ-HĐND ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Lạng Sơn quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Những trường hợp áp dụng hỗ trợ đất đai

+ Đồng bào dân tộc thiểu số chưa có đất sinh hoạt cộng đồng.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) không có đất ở, không có đất nông nghiệp hoặc thiếu đất ở, thiếu đất nông nghiệp so với hạn mức.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng nay không còn đất ở, không còn đất nông nghiệp hoặc thiếu đất ở, thiếu đất nông nghiệp so với hạn mức.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) được Nhà nước cho thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở để sản xuất, kinh doanh.

Phụ nữ dân tộc thiểu số thôn Nà Pái (xã Tân Văn, Bình Gia, Lạng Sơn) thu hoạch hoa hồi. Ảnh: PV

Các loại đất đai được hỗ trợ và hạn mức

Hỗ trợ đất sinh hoạt cộng đồng

Đồng bào dân tộc thiểu số chưa có đất sinh hoạt cộng đồng được Ủy ban nhân dân cấp huyện bố trí quỹ đất sinh hoạt cộng đồng gắn với hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo diện tích tối thiểu là 200 m2.

Hỗ trợ đất ở

1. Trường hợp cá nhân không có đất ở thì được giao đất ở hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh và được miễn tiền sử dụng đất.

2. Trường hợp cá nhân đã được giao đất ở theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nay không còn đất ở hoặc thiếu đất ở so với hạn mức thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.

Hỗ trợ đất nông nghiệp

1. Trường hợp cá nhân không có đất nông nghiệp thì được hỗ trợ giao đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thu tiền sử dụng đất.

2. Trường hợp cá nhân đã được Nhà nước giao đất theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nay không còn đất nông nghiệp hoặc diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng không đủ 50% diện tích đất so với hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.

Hỗ trợ thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở

Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để sản xuất, kinh doanh và được giảm 50% tiền thuê đất.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 11 năm 2024. Hội đồng nhân dân giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh kết quả thực hiện theo quy định.

Lạng Sơn: Chính sách dân tộc tạo động lực để đồng bào DTTS vươn lên

Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 5 huyện biên giới, 2 huyện nghèo; tỷ lệ người DTTS chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông. Trong thời gian qua, Lạng Sơn luôn đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc hỗ trợ đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao đời sống người dân và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân ở vùng DTTS.

Ban Dân tộc Lạng Sơn kiểm tra, rà soát việc triển khai, thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tại huyện Chi Lăng

Nhằm nâng cao đời sống đồng bào DTTS, tỉnh Lạng Sơn đã xác định triển khai Chương trình MTQG giảm ghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719); Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 là những nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, triển khai Chương trình MTQG 1719 cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, tích cực triển khai Chương trình, trong đó cũng đã chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực triển khai Chương trình.

Theo đó, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện chương trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng; phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Đồng thời, huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư các chương trình, dự án để lồng ghép thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa; ổn định dân cư; hỗ trợ trồng rừng sản xuất; hỗ trợ, tập huấn kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi; hỗ trợ nhà ở, sửa chữa nhà cho hộ nghèo…

Xác định an cư mới lạc nghiệp, những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã lồng ghép các chương trình, dự án; huy động các nguồn vốn từ các Chương trình MTQG, các chương trình, dự án và kêu gọi xã hội hóa để hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.

Đơn cử tại huyện Văn Quan (Lạng Sơn), qua rà soát, thẩm định, tổng hợp danh sách trên địa bàn huyện có 185 hộ nghèo, cận nghèo cần được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở, trong đó 94 hộ sửa chữa và 91 hộ xây mới, với tổng kinh phí hơn 5 tỷ 300 triệu đồng. Đến nay, các hộ nghèo, cận nghèo đã và đang tiến hành xây dựng, sửa chữa nhà ở.

Gia đình bà Hoàng Thị Hản, thôn Bó Cáng, xã Tú Xuyên (Văn Quan-Lạng Sơn), thuộc diện hộ nghèo, bao năm phải sinh sống trong căn nhà tạm bợ. Năm nay, gia đình bà được nhà nước hỗ trợ 40 triệu đồng làm nhà ở. Bà mạnh dạn vay mượn thêm của họ hàng để xây dựng căn nhà mới, với đầy đủ công năng sử dụng. Hiện ngôi nhà đang trong quá trình hoàn thiện, các thành viên trong gia đình đều yên tâm, phấn khởi, cố gắng làm ăn để có được cuộc sống tốt hơn.

Bà Hoàng Thị Hản cho biết: Năm 2023 được sự hỗ trợ của Nhà nước, gia đình tôi cũng có thêm một số nguồn lực làm được ngôi nhà, đến giờ cũng sắp hoàn thiện, tôi vui lắm.

Ông Triệu Đức Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Quan, Lạng Sơn cho biết: Những năm qua, huyện luôn quan tâm triển khai các chính sách dân tộc, thực hiện tốt các chế độ chính sách chăm lo cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh, qua đó đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ngày càng được nâng lên.

“Thực hiện dự án hỗ trợ về nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, huyện đã triển khai sửa chữa nhà ở cho 94 hộ, xây mới cho 91 hộ với số kinh phí trên 5 tỷ đồng, chương trình đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân nâng cao đời sống, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội chung của huyện”- ông Dũng nhấn mạnh.

Triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG 1719, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn tổ chức lớp tập huấn nâng cao truyền dạy Hát dân ca năm 2023

Tỉnh Lạng Sơn cũng đã tập trung triển khai thực hiện 10 dự án thành phần thuộc Chương trình MTQG 1719. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Vùng đồng bào DTTS tỉnh Lạng Sơn ngày càng phát triển

Xác định liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm là mắt xích quan trọng, hướng đi bền vững trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân. Chính vì vậy, các hình thức liên kết trong sản xuất nông, lâm nghiệp và tiêu thụ nông sản hàng hóa ở Lạng Sơn đã hình thành và phát triển với nhiều hình thức. Hiện nay, một số hợp tác xã đã tham gia vào liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, xây dựng được thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường.

Đơn cử như Hợp tác xã (HTX) Sản xuất, kinh doanh hồng Vành khuyên Nà Mò, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã phát huy hiệu quả trong việc phát triển sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng Vành khuyên cho bà con trên địa bàn xã Tân Mỹ và các xã lân cận.

Ông Hoàng Văn Hậu, Giám đốc HTX Sản xuất, kinh doanh hồng Vành khuyên Nà Mò cho biết: HTX liên kết với bà con trong vùng và các vùng lân cận để thu mua, kết nối tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân. Mỗi năm, đến vụ thu hoạch hồng HTX tổ chức thu mua cho các xã viên kết nối thương lái ở các nơi để bao tiêu sản phẩm cho bà con.

Việc hình thành được liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, đồng thời, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo vùng nguyên liệu và ổn định đầu ra cho sản phẩm.

Bà Lô Thị Kim Oanh, Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Văn Lãng, Lạng Sơn cho biết: phòng tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo tuyên truyền các hộ dân trên địa bàn huyện tiếp tục nâng cao mở rộng diện tích sản xuất để tạo thành vùng nguyên liệu tập trung. Đồng thời tiếp tục duy trì và cũng cố các chuỗi đã hình thành và sẽ mở rộng ra phát triển sản xuất đối với các cây chủ lực trên địa bàn huyện để đạt hiệu quả hơn.

Với những giải pháp, chính sách cụ thể được triển khai đã tạo đà để đồng bào DTTS vươn lên có cuộc sống ổn định hơn. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 12,02% (năm 2021) xuống còn 8,92% (năm 2022).