Category Archives: Chủ trương chính sách

Hội nghị sơ kết đánh giá tình hình kinh tế tập thể (KTTT) và hoạt động của Ban Chấp hành, cơ quan Liên minh HTX tỉnh 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026

Sáng 9/7, Ban Chấp hành Liên minh hợp tác xã (HTX) tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá tình hình kinh tế tập thể (KTTT) và hoạt động của Ban Chấp hành, cơ quan Liên minh HTX tỉnh 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.

Các đại biểu dự hội nghịChủ tịch Liên minh HTX tỉnh phát biểu tại hội nghị

Theo báo cáo tại hội nghị, để triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, Ban Chấp hành Liên minh HTX tỉnh đã ban hành Nghị quyết 06/NQ-BCH ngày 10/12/2025 về nhiệm vụ năm 2026; lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan Liên minh HTX tỉnh xây dựng các kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể.

Đến hết tháng 6/2026, toàn tỉnh có 390 tổ hợp tác, 588 HTX đăng ký hoạt động với tổng số vốn điều lệ đăng ký trên 1.640 tỷ đồng; 3 liên hiệp HTX đăng ký hoạt động với 19 HTX tham gia với vốn điều lệ 14,8 tỷ đồng.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường trao đổi một số nội dung liên quan đến lĩnh vực ngành phụ trách tại hội nghị

Các tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp. Trong đó các tổ hợp tác có quy mô nhỏ, lẻ, hoạt động mang tính thời vụ; trong 3 liên hiệp HTX đăng ký hoạt động, hiện nay, 2 liên hiệp HTX đã ngừng hoạt động, 1 liên hiệp HTX hoạt động cầm chừng và chưa có doanh thu. Các HTX đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập bình quân 5 – 10 triệu đồng/người/tháng.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Ban Chấp hành, cơ quan Liên minh HTX tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ thúc đẩy phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh. Trong đó, Liên minh HTX tỉnh phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức 10 hội nghị tuyên truyền về KTTT với 450 lượt người tham gia; tổ chức 1 lớp tập huấn về quản trị HTX trong nền kinh tế số ở Việt Nam năm 2026; vận động thành lập mới được 28 HTX, giải thể 3 HTX; hỗ trợ các HTX tiếp cận nguồn vốn vay, xúc tiến thương mại, chuyển đổi số.

Lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phát biểu tại hội nghị

Về nhiệm vụ 6 tháng cuối năm, Liên minh HTX tỉnh tiếp tục phối hợp với các sở, ngành, UBND các xã, phường tổ chức tuyên truyền, vận động phát triển HTX; tổ chức bồi dưỡng nguồn nhân lực cho HTX; tư vấn cho các HTX tiếp cận chính sách hỗ trợ, phát triển nông, lâm nghiệp; thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên; tiếp tục triển khai thực hiện “Dự án hỗ trợ xây dựng và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”…

Lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh phổ biến nội dung chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp tại hội nghị

Cũng trong chương trình hội nghị, Lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh phổ biến, triển khai nội dung Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND ngày 26/3/2026 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 – 2030.

Đại diện HTX nêu ý kiến tại hội nghịLãnh đạo Liên minh HTX tỉnh giải đáp một số kiến nghị của các HTX

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, làm rõ một số nội dung liên quan đến: Việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND ngày 26/3/2026 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp; vay vốn ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh; ứng dụng chuyển đổi số vào sản xuất, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm… Đồng thời nêu các giải pháp cụ thể để khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả KTTT trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh trao quyết định công nhận thành viên cho các HTX

Nhân dịp này, lãnh đạo Liên minh HTX tỉnh trao Quyết định công nhận thành viên cho một số HTX trên địa bàn tỉnh.

ĐÌNH QUYẾT

Ý kiến (0)

Quỹ tín dụng nhân dân – mô hình tài chính hợp tác xã trong bối cảnh phát triển kinh tế tập thể tại tỉnh Lạng Sơn

Trong tiến trình phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã được xác định là một trong những lực lượng quan trọng góp phần tổ chức lại sản xuất, phát huy nội lực cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy, khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng phù hợp vẫn là một trong những khó khăn phổ biến đối với nhiều hợp tác xã, đặc biệt trong bối cảnh quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên.

 

Hợp tác xã đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, song việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phù hợp vẫn còn nhiều thách thức.

Theo số liệu của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đạt trên 53 nghìn tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho vay đối với khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã chiếm tỷ trọng nhỏ, quy mô vay vốn còn hạn chế so với tổng dư nợ toàn địa bàn. Cơ cấu tín dụng dành cho hợp tác xã chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp, phản ánh đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, nhu cầu vốn mang tính mùa vụ và khả năng hấp thụ vốn còn khiêm tốn.

Trong bối cảnh đó, Quỹ tín dụng nhân dân được nhìn nhận là một mô hình tài chính đặc thù, tổ chức và hoạt động theo bản chất hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên, nhằm hỗ trợ vốn cho chính các thành viên trong cộng đồng dân cư. Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân cư trú, sản xuất, kinh doanh trên cùng một địa bàn cấp xã; hoạt động với mục tiêu chủ yếu là tương trợ, hỗ trợ lẫn nhau, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế địa phương, hạn chế tín dụng phi chính thức.

Mô hình Quỹ tín dụng nhân dân gắn với cộng đồng dân cư, hoạt động trên phạm vi địa bàn hẹp, phục vụ trực tiếp nhu cầu vốn của thành viên.

Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trong phạm vi địa bàn cấp xã, chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn hệ thống và phù hợp với đặc thù quản trị của mô hình hợp tác xã. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân đòi hỏi phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện nghiêm ngặt về nhu cầu vốn thực tế, năng lực tài chính, năng lực quản trị, điều hành và phương án hoạt động khả thi, bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.

Tại tỉnh Lạng Sơn, đến nay chưa có tổ chức Quỹ tín dụng nhân dân. Thực tế này cho thấy mô hình tài chính hợp tác xã đặc thù nêu trên chưa được áp dụng trên địa bàn tỉnh, không phải do thiếu cơ sở pháp lý, mà chủ yếu xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội, quy mô hoạt động của hợp tác xã, mức độ liên kết cộng đồng và năng lực tổ chức thực hiện trong từng giai đoạn phát triển.

Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu mô hình Quỹ tín dụng nhân dân tại Lạng Sơn cần được tiếp cận theo hướng thận trọng, bài bản và có lộ trình, tránh tư duy nóng vội hoặc kỳ vọng chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Trước mắt, việc hình thành ngay Quỹ tín dụng nhân dân tại địa phương chưa phải là yêu cầu cấp thiết, song việc chuẩn bị về nhận thức, năng lực và điều kiện nền tảng là cần thiết, nhằm tạo tiền đề cho những bước đi phù hợp trong trung và dài hạn.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn cần xác định một số định hướng hỗ trợ mang tính gợi mở, thiết thực đối với khu vực hợp tác xã. Trọng tâm là tăng cường công tác thông tin, tư vấn, hướng dẫn về các mô hình tài chính hợp tác xã, trong đó có Quỹ tín dụng nhân dân, nhằm giúp các hợp tác xã nhận thức đầy đủ, đúng đắn về bản chất, điều kiện và phạm vi áp dụng của mô hình, qua đó chủ động lựa chọn hình thức tiếp cận phù hợp, hạn chế tình trạng hiểu chưa đầy đủ hoặc phát sinh kỳ vọng vượt quá khả năng thực hiện.

Bên cạnh đó, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lạng Sơn chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn, tổ chức liên quan triển khai các hoạt động tư vấn, tập huấn, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về quản trị tài chính, quản trị hợp tác xã; hỗ trợ nâng cao năng lực xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh và phương án sử dụng vốn của các hợp tác xã. Đây được xác định là giải pháp nền tảng, góp phần từng bước nâng cao năng lực nội tại, khả năng hấp thụ vốn và mức độ sẵn sàng của hợp tác xã khi tiếp cận các mô hình tài chính có yêu cầu quản trị cao, trong đó có mô hình Quỹ tín dụng nhân dân.

Song song với đó, Liên minh Hợp tác xã tỉnh phát huy vai trò đại diện, cầu nối thông tin của khu vực kinh tế tập thể, hỗ trợ các hợp tác xã tiếp cận các kênh vốn hợp pháp hiện có; đồng thời tổng hợp, phản ánh thực tiễn, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tiếp cận tín dụng của hợp tác xã. Trên cơ sở theo dõi, đánh giá điều kiện thực tế và nhu cầu của các hợp tác xã, việc nghiên cứu, đề xuất khả năng áp dụng mô hình Quỹ tín dụng nhân dân tại một số địa bàn phù hợp có thể được xem xét theo đúng quy định của pháp luật.

Phát triển kinh tế tập thể bền vững là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu thực tiễn, năng lực nội tại của hợp tác xã và khuôn khổ pháp lý hiện hành. Trong bối cảnh đó, Quỹ tín dụng nhân dân được nhìn nhận là một mô hình tài chính hợp tác xã có giá trị tham khảo, tuy nhiên việc xem xét áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn cần được đặt trong tầm nhìn dài hạn, triển khai từng bước, có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương trong từng giai đoạn.

Hữu Hải

Phó GĐ TTXTĐTTM&DL

Hợp tác xã hướng cho sản phẩm nông sản tham gia thị trường xuất khẩu

– Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc đưa nông sản đến với thị trường quốc tế không chỉ đòi hỏi chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu cao về quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Chính vì vậy, thời gian qua, các hợp tác xã (HTX) trên địa bàn tỉnh đang từng bước phát huy vai trò liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, tạo nền tảng quan trọng để mở rộng thị trường.

Toàn tỉnh hiện có 400 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhận thức rõ xu hướng hội nhập và yêu cầu phải thay đổi tư duy sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường, những năm gần đây, nhiều HTX trên địa bàn tỉnh đã chủ động đổi mới phương thức hoạt động, tập trung xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn và đẩy mạnh liên kết tiêu thụ sản phẩm. Qua đó không chỉ nâng cao giá trị nông sản mà còn giúp người dân từng bước tiếp cận các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước.

HTX Nông nghiệp Hoàng Việt, xã Na Sầm là một trong những HTX điển hình áp dụng sản xuất hồng Vành Khuyên theo tiêu chuẩn VietGAP để nâng cao chất lượng sản phẩm. Ông Hoàng Văn Hưng, Giám đốc HTX chia sẻ: HTX được thành lập năm 2019, với 8 thành viên, diện tích trồng hồng khoảng 20 ha. Trước đây, các hộ trồng hồng chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, hiệu quả không cao, thị trường tiêu thụ còn khó khăn. Sau khi HTX được thành lập, các thành viên đã được tham gia các lớp tập huấn về trồng, chăm sóc hồng do các cơ quan chuyên môn phối hợp tổ chức; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây hồng. Đến nay, các thành viên đều tuân thủ chung một quy trình kỹ thuật chăm sóc, sử dụng vật tư đầu vào theo hướng dẫn, ghi chép nhật ký sản xuất hằng ngày… Hiện nay, 100% diện tích trồng hồng của HTX được sản xuất theo quy trình VietGAP, sản lượng tăng khoảng 15 – 20% so với trước kia, mẫu mã, chất lượng quả to đẹp, đồng đều. Đây là điều kiện để HTX hướng tới thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn.

Cùng với việc áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, nhiều HTX cũng tập trung xây dựng thương hiệu, hoàn thiện mẫu mã, bao bì để tham gia chương trình OCOP (mỗi xã một sản phẩm). Đây là yếu tố quan trọng giúp sản phẩm tạo dựng niềm tin với khách hàng, gia tăng giá trị tham gia các chuỗi cung ứng hiện đại.

Tiêu biểu như HTX Chế biến nông sản Lụa Vy, xã Quan Sơn. Bà Vi Thị Lụa, Giám đốc HTX cho biết: Hiện HTX có 2 sản phẩm đạt OCOP (trà diếp cá và trà ổi rừng). Sau khi sản phẩm trà diếp cá của HTX được công nhận OCOP 3 sao (năm 2022), HTX đã tiếp tục đầu tư máy móc, hoàn thiện quy trình sản xuất theo hướng an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng xây dựng thương hiệu và cải tiến mẫu mã bao bì. Nhờ đó, năm 2025 sản phẩm trà diếp cá được nâng hạng lên OCOP 4 sao. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của HTX mà còn tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm tiếp cận các thị trường mới, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường. Thời gian tới, HTX sẽ tiếp tục đầu tư, nâng cấp sản phẩm trà diếp cá dạng viên và nước cô đặc dạng cao, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giúp nhiều khách hàng biết đến sản phẩm hơn.

Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, những năm gần đây, các HTX đã tập trung ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng các mô hình sản xuất sạch và phát triển các sản phẩm nông sản hữu cơ. Cụ thể, hiện nay trên địa bản tỉnh có 50 HTX nông nghiệp có ứng dụng khoa học công nghệ, áp dụng thực hành nông nghiệp tốt và có 72 HTX nông nghiệp liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, hộ sản xuất. Cùng với đó, có 58 HTX có sản phẩm đạt OCOP. Đây là nền tảng quan trọng để các HTX từng bước tham gia chuỗi giá trị và hướng tới xuất khẩu.

Bên cạnh sự chủ động của các HTX, thời gian qua, Liên minh HTX tỉnh đã phối hợp các đơn vị liên quan triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ như: Phối hợp các ngành tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật; hướng dẫn lập kế hoạch sản xuất kinh doanh; bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị HTX; hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm… Cụ thể, tính riêng từ năm 2025 đến nay, Liên minh HTX tỉnh đã hỗ trợ trưng bày sản phẩm của 15 HTX trên địa bàn tỉnh tại các hội chợ trong cả nước; tổ chức 3 lớp tập huấn nâng cao năng lực quản trị cho các thành viên HTX… Thông qua các chương trình này, nhiều HTX từng bước tiếp cận phương thức sản xuất hiện đại, thay đổi tư duy từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu của thị trường.

Ông Liễu Xuân Du, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh cho biết: Thời gian qua, các HTX trên địa bàn tỉnh đã chủ động đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX, mở rộng thị trường tiêu thụ, thời gian tới, Liên minh HTX tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với các sở, ngành liên quan đẩy mạnh tư vấn, hỗ trợ các HTX nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng các hoạt động xúc tiến thương mại. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản địa phương, tạo điều kiện để các HTX từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và hướng tới thị trường xuất khẩu.

Có thể thấy, với vai trò là cầu nối liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu sản phẩm, các HTX đang trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Sự chủ động đổi mới của các HTX cùng với sự đồng hành của các cấp, ngành chức năng sẽ tạo nền tảng vững chắc để nông sản địa phương nâng cao giá trị, mở rộng thị trường tiêu thụ, từng bước hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

(HIỂU LAM – CÁT TIÊN, Báo Lạng Sơn điện tử)

Bàn giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của hợp tác xã

Lạng Sơn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(Mặt trận) – Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 5 huyện biên giới, 2 huyện nghèo; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông.  Trong thời gian qua, Lạng Sơn luôn đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc hỗ trợ đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình) góp phần nâng cao đời sống người dân và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân ở vùng dân tộc thiểu số.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giúp đời sống đồng bào các DTTS ở Lạng Sơn ngày càng khởi sắc. (Nguồn Báo Dân tộc và Phát triển).

Thực hiện Chương trình thời gian qua, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành cụ thể hóa các chủ trương, định hướng, quy định của Trung ương, của tỉnh. Theo đó, các cấp, các ngành đã xây dựng, ban hành các Quyết định, Kế hoạch để triển khai thực hiện và tăng cường công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với triển khai các phong trào thi đua của Trung ương, của tỉnh phát động….

Quá trình tổ chức, quản lý thực hiện chương trình được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình cấp tỉnh, 11/11 huyện, thành phố đã ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện; đồng thời hướng dẫn 181/181 xã thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp xã. Công tác lập kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch hằng năm; tăng cường cơ chế phân cấp trong huy động nguồn lực, nâng cao tính chủ động, linh hoạt của các cấp trong quản lý, tổ chức thực hiện.

Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường xuyên, đúng quy định; trong giai đoạn, ban chỉ đạo chương trình MTQG các cấp đã ban hành các kế hoạch kiểm tra, chương trình công tác của các ngành, của tỉnh. Hằng năm UBND tỉnh đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện các chương trình MTQG kết hợp với việc kiểm tra tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Việc lập, thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 và hằng năm được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 tỉnh được giao là 4.178.824 triệu đồng, trong đó: ngân sách Trung ương 3.974.964 triệu đồng, ngân sách địa phương đối ứng 203.860 triệu đồng.

Trên cơ sở nguồn vốn kinh phí được giao, tỉnh đã phân bổ giai đoạn 2022-2024 là: 2.859.173 triệu đồng, trong đó: ngân sách trung ương 2.722.991 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 1.588.505 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 1.134.486 triệu đồng), ngân sách địa phương đối ứng 136.182 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 79.444 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 56.738 triệu đồng).

Từ nguồn vốn được phân bổ, các cơ quan, đơn vị, các cấp, ngành đã triển khai thực hiện giải ngân theo đúng mục đích của Chương trình đề ra. Đến nay, tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2021-2024 đã giải ngân (tính đến hết tháng 9/2024) là: 1.604.676 triệu đồng, đạt 56% so với kế hoạch vốn đã giao, trong đó: ngân sách trung ương 1.580.769 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 1.226.845 triệu đồng, vốn sự nghiệp 353.924 triệu đồng), ngân sách địa phương đối ứng 23.907 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 18.349 triệu đồng, vốn sự nghiệp 5.558 triệu đồng). Ước giải ngân đến hết năm 2024 đạt 86% so với kế hoạch vốn đã giao.

Qua 4 năm tập trung triển khai thực hiện 10 dự án thành phần thuộc Chương trình, kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, kinh tế phát triển khá toàn diện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3%/năm, dự kiến giai đoạn 2024-2025 tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2-2,5%. Đến thời điểm này đã có 11/47 xã đã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 23% so với kế hoạch giai đoạn; dự kiến đến hết năm 2025 có 47/47 xã, 47/47 thôn thuộc xã khu vực I, II và 268/268 thôn thuộc xã khu vực III thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 100% chỉ tiêu so với kế hoạch giai đoạn.

Từ các nguồn vốn của Chương trình đã thực hiện đầu tư cứng hóa mới 241,49/193km đường đến trung tâm xã, đường liên xã (vượt 25% kế hoạch giai đoạn); xây mới 02, cải tạo; sửa chữa 12 trạm y tế xã; xây mới 01 chợ và cải tạo, sửa chữa, nâng cấp 08 chợ; duy tu bảo dưỡng 159 công trình các loại; đầu tư xây dựng 71 phòng công vụ giáo viên; 102 phòng ở cho học sinh; hỗ trợ 65 dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, 155 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng…

Tỉnh tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các xã, thôn, bản khó khăn nhất, giải quyết các vấn đề bức xúc, cấp bách nhất. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng. Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Theo Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, tính đến tháng10/2024, tỉnh đã thực hiện Dự án 1 hỗ trợ đất ở cho 03/142 hộ (đạt 2% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ nhà ở cho 1.040/2.015 hộ (đạt 52% kế hoạch giai đoạn);  hỗ trợ đất sản xuất cho 0/139 hộ (đạt 0% kế hoạch giai đoạn); hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 1.887/5.000 hộ (đạt 38% kế hoạch giai đoạn), hỗ trợ vay vốn chuyển đổi nghề 52.986 triệu đồng với 1.120 lượt hộ vay; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 6.933/11.000 hộ (đạt 63% kế hoạch giai đoạn); đầu tư xây dựng 48/24 công trình nước sinh hoạt tập trung (vượt 100% kế hoạch giai đoạn).

Tỉnh dự kiến thực hiện Dự án 1 đến hết năm 2025 chỉ đạt 80% kế hoạch vốn giai đoạn giao. Tiến độ thực hiện các nội dung thuộc dự án không đồng đều do không có quỹ đất thực hiện hỗ trợ, đối tượng thụ hưởng, nội dung chuyển đổi nghề trùng lặp với đối tượng thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; đối tượng hộ nghèo đăng ký hỗ trợ nhà ở ít, định mức hỗ trợ xây nhà cho hộ nghèo thấp (40 triệu đồng/hộ); Bộ, ngành Trung ương chưa ban hành văn bản thực hiện nội dung sửa chữa nhà dẫn đến một số nội dung, chỉ tiêu thực hiện đến hết giai đoạn khó đạt mục tiêu giai đoạn đề ra.

Đối với Dự án 2: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết tỉnh đã thực hiện 08/09 dự án ổn định dân cư, đạt 89% kế hoạch giai đoạn (trong đó: 02 dự án tại huyện Tràng Định, 02 dự án tại huyện Chi Lăng, 03 dự án tại huyện Bình Gia, 01 dự án tại huyện Lộc Bình). Các dự án đang trong quá trình thi công các hạng mục công trình, tiến độ triển khai tốt; đã thực hiện sắp xếp, hỗ trợ di dời cho 225 hộ (Lộc Bình 18 hộ, Bình Gia 207 hộ). Dự kiến thực hiện đến hết năm 2025 đạt 100% kế hoạch vốn giai đoạn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Chương trình còn có những khó khăn, hạn chế Kết quả thực hiện một số dự án, tiểu dự án thuộc Chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu, kế hoạch đề ra: số lượng hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất thuộc Dự án 1; diện tích thực hiện hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng sản xuất thuộc Tiểu dự án 1 – Dự án 3…
; tỷ lệ hộ nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo có nguy cơ tái nghèo còn cao; mục tiêu của Chương trình giai đoạn 2021 – 2025 giảm 50% xã, thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn chưa bảo đảm tính khả thi.

Để triển khai thực hiện tốt Chương trình trong giai đoạn tới, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, sát sao, phát huy vai trò của người đứng đầu trong việc bám sát quan điểm, mục tiêu và giải pháp để xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể, tập trung chỉ đạo và huy động các nguồn lực cho chương trình; phát huy vai trò của cán bộ trong triển khai, thực hiện chương trình, nhất là cán bộ cấp cơ sở.

Cùng đó, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa thiết thực của chương trình; tuyên truyền huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, báo chí trung ương, địa phương hoạt động trên địa bàn, chú trọng làm tốt công tác đối thoại với Nhân dân; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh tại cơ sở. Đồng thời, xác định mục tiêu phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, cơ sở; linh hoạt vận dụng các cơ chế, chính sách trong triển khai thực hiện, trao quyền tự chủ cho người dân và cộng đồng để họ thực sự là chủ thể trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình, chính sách, tạo động lực cho người dân vươn lên thoát nghèo.

Chính sách hỗ trợ đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn

Đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nếu thuộc đối tượng quy định có thể được hỗ trợ đất ở, đất nông nghiệp, đất sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở.
Phụ nữ dân tộc thiểu số thôn Nà Pái (xã Tân Văn, Bình Gia, Lạng Sơn) thu hoạch hoa hồi. Ảnh: PV

Hỏi: Theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thì những ai sẽ được hỗ trợ đất, gồm những loại đất nào, hạn mức ra sao?

Nông Thị Thanh Thảo (Văn Lãng, Lạng Sơn)

Trả lời

Nghị quyết số 18/2024/NQ-HĐND ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Lạng Sơn quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Những trường hợp áp dụng hỗ trợ đất đai

+ Đồng bào dân tộc thiểu số chưa có đất sinh hoạt cộng đồng.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) không có đất ở, không có đất nông nghiệp hoặc thiếu đất ở, thiếu đất nông nghiệp so với hạn mức.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng nay không còn đất ở, không còn đất nông nghiệp hoặc thiếu đất ở, thiếu đất nông nghiệp so với hạn mức.

+ Cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền) được Nhà nước cho thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở để sản xuất, kinh doanh.

Phụ nữ dân tộc thiểu số thôn Nà Pái (xã Tân Văn, Bình Gia, Lạng Sơn) thu hoạch hoa hồi. Ảnh: PV

Các loại đất đai được hỗ trợ và hạn mức

Hỗ trợ đất sinh hoạt cộng đồng

Đồng bào dân tộc thiểu số chưa có đất sinh hoạt cộng đồng được Ủy ban nhân dân cấp huyện bố trí quỹ đất sinh hoạt cộng đồng gắn với hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo diện tích tối thiểu là 200 m2.

Hỗ trợ đất ở

1. Trường hợp cá nhân không có đất ở thì được giao đất ở hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh và được miễn tiền sử dụng đất.

2. Trường hợp cá nhân đã được giao đất ở theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nay không còn đất ở hoặc thiếu đất ở so với hạn mức thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.

Hỗ trợ đất nông nghiệp

1. Trường hợp cá nhân không có đất nông nghiệp thì được hỗ trợ giao đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh không thu tiền sử dụng đất.

2. Trường hợp cá nhân đã được Nhà nước giao đất theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nay không còn đất nông nghiệp hoặc diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng không đủ 50% diện tích đất so với hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ.

Hỗ trợ thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở

Cá nhân được Nhà nước cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để sản xuất, kinh doanh và được giảm 50% tiền thuê đất.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 11 năm 2024. Hội đồng nhân dân giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh kết quả thực hiện theo quy định.

Lạng Sơn: Chính sách dân tộc tạo động lực để đồng bào DTTS vươn lên

Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 5 huyện biên giới, 2 huyện nghèo; tỷ lệ người DTTS chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông. Trong thời gian qua, Lạng Sơn luôn đẩy mạnh thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc hỗ trợ đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần nâng cao đời sống người dân và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân ở vùng DTTS.

Ban Dân tộc Lạng Sơn kiểm tra, rà soát việc triển khai, thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tại huyện Chi Lăng

Nhằm nâng cao đời sống đồng bào DTTS, tỉnh Lạng Sơn đã xác định triển khai Chương trình MTQG giảm ghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719); Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 là những nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, triển khai Chương trình MTQG 1719 cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, tích cực triển khai Chương trình, trong đó cũng đã chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực triển khai Chương trình.

Theo đó, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện chương trình tái cơ cấu nông nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng; phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Đồng thời, huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư các chương trình, dự án để lồng ghép thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa; ổn định dân cư; hỗ trợ trồng rừng sản xuất; hỗ trợ, tập huấn kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi; hỗ trợ nhà ở, sửa chữa nhà cho hộ nghèo…

Xác định an cư mới lạc nghiệp, những năm qua, tỉnh Lạng Sơn đã lồng ghép các chương trình, dự án; huy động các nguồn vốn từ các Chương trình MTQG, các chương trình, dự án và kêu gọi xã hội hóa để hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.

Đơn cử tại huyện Văn Quan (Lạng Sơn), qua rà soát, thẩm định, tổng hợp danh sách trên địa bàn huyện có 185 hộ nghèo, cận nghèo cần được hỗ trợ xây mới hoặc sửa chữa nhà ở, trong đó 94 hộ sửa chữa và 91 hộ xây mới, với tổng kinh phí hơn 5 tỷ 300 triệu đồng. Đến nay, các hộ nghèo, cận nghèo đã và đang tiến hành xây dựng, sửa chữa nhà ở.

Gia đình bà Hoàng Thị Hản, thôn Bó Cáng, xã Tú Xuyên (Văn Quan-Lạng Sơn), thuộc diện hộ nghèo, bao năm phải sinh sống trong căn nhà tạm bợ. Năm nay, gia đình bà được nhà nước hỗ trợ 40 triệu đồng làm nhà ở. Bà mạnh dạn vay mượn thêm của họ hàng để xây dựng căn nhà mới, với đầy đủ công năng sử dụng. Hiện ngôi nhà đang trong quá trình hoàn thiện, các thành viên trong gia đình đều yên tâm, phấn khởi, cố gắng làm ăn để có được cuộc sống tốt hơn.

Bà Hoàng Thị Hản cho biết: Năm 2023 được sự hỗ trợ của Nhà nước, gia đình tôi cũng có thêm một số nguồn lực làm được ngôi nhà, đến giờ cũng sắp hoàn thiện, tôi vui lắm.

Ông Triệu Đức Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Quan, Lạng Sơn cho biết: Những năm qua, huyện luôn quan tâm triển khai các chính sách dân tộc, thực hiện tốt các chế độ chính sách chăm lo cho đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh, qua đó đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ngày càng được nâng lên.

“Thực hiện dự án hỗ trợ về nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, huyện đã triển khai sửa chữa nhà ở cho 94 hộ, xây mới cho 91 hộ với số kinh phí trên 5 tỷ đồng, chương trình đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân nâng cao đời sống, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội chung của huyện”- ông Dũng nhấn mạnh.

Triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG 1719, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn tổ chức lớp tập huấn nâng cao truyền dạy Hát dân ca năm 2023

Tỉnh Lạng Sơn cũng đã tập trung triển khai thực hiện 10 dự án thành phần thuộc Chương trình MTQG 1719. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Vùng đồng bào DTTS tỉnh Lạng Sơn ngày càng phát triển

Xác định liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm là mắt xích quan trọng, hướng đi bền vững trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân. Chính vì vậy, các hình thức liên kết trong sản xuất nông, lâm nghiệp và tiêu thụ nông sản hàng hóa ở Lạng Sơn đã hình thành và phát triển với nhiều hình thức. Hiện nay, một số hợp tác xã đã tham gia vào liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, xây dựng được thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường.

Đơn cử như Hợp tác xã (HTX) Sản xuất, kinh doanh hồng Vành khuyên Nà Mò, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng đã phát huy hiệu quả trong việc phát triển sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng Vành khuyên cho bà con trên địa bàn xã Tân Mỹ và các xã lân cận.

Ông Hoàng Văn Hậu, Giám đốc HTX Sản xuất, kinh doanh hồng Vành khuyên Nà Mò cho biết: HTX liên kết với bà con trong vùng và các vùng lân cận để thu mua, kết nối tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân. Mỗi năm, đến vụ thu hoạch hồng HTX tổ chức thu mua cho các xã viên kết nối thương lái ở các nơi để bao tiêu sản phẩm cho bà con.

Việc hình thành được liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, đồng thời, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo vùng nguyên liệu và ổn định đầu ra cho sản phẩm.

Bà Lô Thị Kim Oanh, Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Văn Lãng, Lạng Sơn cho biết: phòng tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo tuyên truyền các hộ dân trên địa bàn huyện tiếp tục nâng cao mở rộng diện tích sản xuất để tạo thành vùng nguyên liệu tập trung. Đồng thời tiếp tục duy trì và cũng cố các chuỗi đã hình thành và sẽ mở rộng ra phát triển sản xuất đối với các cây chủ lực trên địa bàn huyện để đạt hiệu quả hơn.

Với những giải pháp, chính sách cụ thể được triển khai đã tạo đà để đồng bào DTTS vươn lên có cuộc sống ổn định hơn. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 12,02% (năm 2021) xuống còn 8,92% (năm 2022).

Lạng Sơn: Triển khai nhiều chính sách nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

(PLVN) – Năm 2023, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đạt nhiều kết quả tích cực. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có 2 huyện nghèo, 5 huyện biên giới; tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm hơn 83% dân số toàn tỉnh, với 07 dân tộc chủ yếu là: Nùng, Tày, Kinh, Dao, Sán Chay, Hoa, Mông; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 19,28%; quy mô nền kinh tế nhỏ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; hạ tầng còn khó khăn…. Do đó, tỉnh xác định việc triển khai thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng tâm.

Trong năm 2023, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành kế hoạch số 59 /KH-UBND, trong đó tập trung, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội có trọng tâm, trọng điểm đối với vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn, đảm bảo để các xã, thôn thoát nghèo bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS &MN trên địa bàn tỉnh đạt mục tiêu giảm bình quân 3,0%/năm.

Lạng Sơn tiếp tục tổ chức thực hiện kịp thời và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. (Ảnh; Lê Hanh)

Năm 2023, tỉnh cũng phấn đấu đạt mục tiêu 05 xã thoát khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn 01 xã; huyện Bình Gia 01 xã; huyện Văn Quan: 01 xã; huyện Lộc Bình: 01 xã; huyện Đình Lập: 01 xã; 24 thôn thuộc xã khu vực I, II thoát khỏi địa bàn thôn đặc biệt khó khăn, bao gồm: huyện Bắc Sơn là 04 thôn; huyện Chi Lăng là 10 thôn; huyện Hữu Lũng là 02 thôn; huyện Đình Lập là 06 thôn; huyện Văn Lãng là 02 thôn.

Ông Lương Trọng Quỳnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn cho biết: “Việc thực hiện phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn luôn bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả và kịp thời giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong công tác tham mưu, đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, tổ chức triển khai thực hiện, phấn đấu hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ đề ra”.

Trong năm qua, tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho đồng bào DTTS và miền núi. Trong đó, ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS&MN chưa có đất ở, chưa có nhà ở hoặc có nhà ở bị dột nát, hư hỏng.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn cho các hộ gia đình vùng đồng bào DTTS&MN theo hình thức tái định cư tập trung, xen ghép hoặc ổn định tại chỗ theo quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.

Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng DTTS&MN.

Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)
Tỉnh Lạng Sơn đã ưu tiên giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và MN. (Ảnh: Lê Hanh)

Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng DTTS&MN và các đơn vị sự nghiệp công của lĩnh vực dân tộc, bao gồm việc đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống và đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp mạng lưới chợ vùng đồng bào DTTS&MN.

Đối với giáo dục, tỉnh tăng cường đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào DTTS&MN. Bên cạnh đó, bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học; phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng DTTS&MN. Tăng cường thực hiện chính sách đầu tư y tế xã đạt chuẩn, mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, hộ dân tộc thiểu số;

Chăm sóc cải thiện sức khoẻ của người DTTS bằng công tác y tế cơ sở để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào DTTS&MN. Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội nhằm nâng cao đồi sống cho đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn.

Cùng với đó, tỉnh cũng chú trọng việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức của đồng bào về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo là những đối tượng có tiếng nói trong địa bàn thôn, bản để họ trực tiếp vận động đồng bào tích cực tham gia giáo dục pháp luật ; nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng cho vùng đồng bào DTTS&MN về chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Để thực hiện các dự án này, Ban Dân tộc tỉnh là đầu mối thống nhất theo dõi, đôn đốc, tổng hợp các chính sách dân tộc; đề xuất và tham gia thẩm định chính sách, các dự án đầu tư liên quan đến vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung trong Kế hoạch, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu đã đề ra. Tiến hành sơ kết, đánh giá các chỉ tiêu trong Kế hoạch, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính rà soát, đề xuất, điều chỉnh bổ sung các dự án đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế, báo cáo UBND tỉnh.

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập BCĐTƯ Chương trình MTQG …

Ảnh minh họa (tapchitaichinh.vn)

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình làm Trưởng ban chỉ đạo.

Ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc làm Phó Trưởng ban thường trực. 2 Phó Trưởng ban khác là lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và lãnh đạo Bộ Tài chính.

Các thành viên BCĐ là đại diện một số bộ, ngành liên quan.

BCĐ Trung ương có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc liên quan đến quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các giải pháp để đạt được mục tiêu của Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Đề án) và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Chương trình).

Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách có liên quan để thực hiện hiệu quả Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối hoạt động giữa các Bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương và các địa phương trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án.

Bên cạnh đó, giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, ngành cơ quan trung ương và các địa phương trong việc xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, điều hành Chương trình và triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng trong quá trình thực hiện.

Trưởng BCĐ Trung ương quy định Quy chế hoạt động của BCĐ Trung ương và phân công nhiệm vụ của các thành viên BCĐ.

Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 đặt tại Ủy ban Dân tộc, giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương và trực tiếp giúp việc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc – Phó Trưởng ban thường trực BCĐ Trung ương để quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; sử dụng biên chế của Ủy ban Dân tộc và được bố trí kinh phí hoạt động trong kinh phí thường xuyên của Ủy ban Dân tộc.

>> Quyết định số 1014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2020 về Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 20301014-QĐ-TTg – 14-7-2020.signed.pdf

(Theo baochinhphu.vn)

Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện

Nghị định số 107/2020/NĐ-CP và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/9/2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2020. Cụ thể, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các sở chuyên môn; tiêu chí thành lập các phòng chuyên môn, văn phòng, chi cục và các tổ chức tương đương thuộc sở; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu sở, số lượng cấp phó của các đơn vị, tổ chức thuộc sở… Đáng lưu ý, Nghị định 107/2020/NĐ-CP quy định rõ số lượng phó giám đốc sở không cứng nhắc mà linh động theo số bình quân mỗi sở có 3 phó giám đốc. Căn cứ số lượng sở được thành lập và tổng số lượng phó giám đốc, UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể số lượng phó giám đốc của từng sở cho phù hợp. Riêng đối với Hà Nội và Tp.HCM, ngoài tổng số lượng phó giám đốc theo quy định tính bình quân chung thì mỗi thành phố được tăng thêm không quá 10 phó giám đốc.

Đối với ngành công tác dân tộc, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 9 như sau: Ban Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ban Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Và khoản 17 Điều 8: Trường hợp không tổ chức riêng Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ngoại vụ, dân tộc do Văn phòng Ủy ban nhân dân thực hiện.”

Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, trách nhiệm của Trưởng phòng, số lượng Phó Trưởng phòng các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố. Trong đó, Phòng Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Phòng Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Trường hợp không tổ chức riêng Phòng Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực dân tộc do Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện.

Chi tiết Nghị định 107/2020/NĐ-CP

Chi tiết Nghị định 108/2020/NĐ-CP